Hiển thị các bài đăng có nhãn Câu chuyện văn hóa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Câu chuyện văn hóa. Hiển thị tất cả bài đăng

18 thg 7, 2012

biểu tượng của đẹp & sex

Lý Lan
“Tôi ích kỷ, bộp chộp, và hơi chông chênh. Tôi mắc sai lầm, dễ nổi nóng, và có lúc rất cứng đầu. Nhưng nếu anh không chịu đựng nỗi điều tồi tệ nhứt của tôi, thì anh cũng không xứng đáng với điều tốt đẹp nhứt của tôi.”* Tác giả câu này là Marilyn Monroe, nữ diễn viên điện ảnh Mỹ biểu tượng cho đẹp và sex.

Người đàn bà này có cuộc đời ly kỳ hơn tiểu thuyết: Ra đời không có cha, mẹ loạn trí phải vô nhà thương điên, tuổi thơ trôi giạt từ gia đình cha mẹ nuôi đến viện mồ côi. Để có một gia đình, Marilyn lấy chồng, lúc 16 tuổi. Từ tuổi đó, Marilyn tự kiếm sống bằng lao động trong nhà máy, rồi làm người mẫu, và trở thành diễn viên điện ảnh, nổi tiếng như ngôi sao tình dục hồi giữa thế kỷ 20. Trong vòng 15 năm Marilyn lần lượt kết hôn rồi ly dị cả ba ông chồng: một thủy thủ tàu buôn, một cầu thủ bóng chày, và kịch tác gia Arthur Miller. Tình nhân thì có thể kể thí dụ một hai người, như anh em tổng thống Kennedy. Một hôm người ta phát hiện Marilyn nằm chết trên giường ngủ. Người ta tin là bà bị ám sát, dù thông cáo chính thức nói là bà tự tử. Năm đó bà 36 tuổi.

Marilyn Monroe đã học được từ tuổi thơ côi cút “cách tốt nhất để khỏi bị khốn khổ là đừng phàn nàn và đừng đòi hỏi”* Khi ở trên đỉnh phù hoa, bà vẫn hằng đối diện với cái tôi thời thơ ấu ấy. “Với tất cả thành đạt quanh mình, tôi vẫn còn cảm thấy ánh mắt sợ hãi của cô gái nhỏ ấy đang nhìn ra từ đôi mắt tôi. Cô bé lập đi lập lại rằng ‘tôi chưa từng sống, tôi chưa từng được yêu’, và tôi thường bối rối nghĩ rằng chính tôi đang nói điều đó.”* Tại sao? “Người ta có thói quen nhìn tôi như thể tôi là một thứ gương soi chứ không phải một con người. Họ không hề thấy tôi, mà thấy những ý nghĩ dâm dục của chính họ, rồi họ tự đeo mặt nạ đạo đức cho mình bằng cách gọi tôi là đồ dâm đãng.”*

Về những ông chồng, Marilyn nói họ là “những người tình tuyệt vời khi họ phản bội vợ”*. Phần mình, “tôi có quá nhiều mộng tưởng so với vai trò vợ nhà… có lẽ tôi cũng chỉ là một mộng tưởng.”* Kinh nghiệm tình ái của bà: “Người đàn ông phải kích thích chính tinh thần và tâm trạng của người đàn bà để làm cho tình dục thêm hào hứng. Người tình thực sự tuyệt vời là người có thể khiến mình đắm say bằng sự vuốt ve trí tuệ và gieo hân hoan vào ánh mắt ta, hoặc chỉ đăm chiêu nhìn khoảng không.”* Những cuộc tìm kiếm tình yêu – hạnh phúc của bà đều kết thúc buồn. “Tôi thà đau khổ một mình hơn là đau khổ với ai đó.”*

Không phải bà coi trọng danh vọng hơn một “gia đình” bấp bênh với một người đàn ông sống với bà với ưu tiên tình dục. Bà cũng ham muốn có con cái, chứ “là Marilyn Monroe thì hay ho gì? Tại sao tôi không thể chỉ là một người đàn bà bình thường? Một người đàn bà có một gia đình… tôi sẵn sàng thỏa thuận để có một đứa con. Con của chính tôi.”* Là Marilyn Monroe tức là (gần như) trần truồng đầy quyến rũ trên màn bạc, phơi bày cái đẹp của thân thể “để được ngắm, chứ không để gói kín.”* Nhưng “là biểu tượng tình dục là vác một gánh quá nặng, đặc biệt khi người ta mệt mỏi, tổn thương và hoang mang.”*

Sinh thời Marilyn đóng nhiều phim nổi tiếng, đem lại doanh thu 200 triệu đô la. (giá trị đô la Mỹ cách đây nửa thế kỷ lớn hơn bây giờ rất nhiều). Nghề diễn viên là một lao động vất vả và cần đầu tư cả tâm trí mới hòng đạt được thành tựu, dù như ngôi sao tình dục.“Sự sáng tạo phải bắt đầu từ chất người, và khi người ta là người, người ta có cảm xúc, người ta biết đau khổ.”* Marilyn Monroe ý thức vai diễn của mình trong những bộ phim không được đánh giá cao về nghệ thuật. Bà luôn muốn có vai khác, nhưng đạo diễn không muốn thử khai thác tài năng của bà, họ cho rằng khai thác sự hấp dẫn của thân thể người đàn bà đẹp ấy là đủ hốt bạc. “Hollywood là nơi người ta được trả một ngàn đô cho một cái hôn và 50 xu cho một tâm hồn.”* Ở đó “nữ diễn viên không phải là một cái máy, nhưng bị đối xử như một cái máy. Cái máy làm ra tiền.”*

Nhưng cuộc tìm kiếm lớn nhứt của Marilyn Monroe không hẳn là đỉnh cao nghề nghiệp.hay người đàn ông lý tưởng để lập gia đình. “Tôi luôn cố gắng tìm kiếm chính mình với tư cách một con người, điều này không dễ. Hàng triệu người sống cả đời mà không tìm được chính mình. Nhưng đó là điều cần phải làm. Cách hay nhứt để tôi tìm được tôi như một con người là chứng minh cho chính mình rằng mình là một nghệ sĩ.”*

Người chồng cuối cùng của Marilyn Monroe, kịch tác giả Arthur Miller, nói về bà: “Để sống còn, lẽ ra nàng phải trở nên hoài nghi, phớt đời, hoặc vượt xa hơn hiện thực bản thân mình. Nhưng thay vì vậy, nàng là một thi sĩ đứng ở góc phố cố gắng ngâm thơ cho một đám đông hè nhau kéo áo, tuột quần nàng.”*

Có một giai thoại , Marilyn Monroe gặp Albert Einstein bèn cặp tay ông bảo tụi mình cưới nhau đi, con cái tụi mình sẽ thừa hưởng sự hoàn hảo của ngoại hình lẫn trí tuệ. Einstein nói nhưng rủi tụi mình đẻ ra những đứa có nhan sắc của tôi và đầu óc của bà thì sao? Chuyện tiếu lâm này tiêu biểu cho thành kiến phổ biến về Marilyn. Nhưng hãy đọc Fragments, những mảnh vỡ, xuất bản lần đầu tiên sau khi Marilyn Monroe qua đời 48 năm. Quyển sách tập hợp những mảnh giấy viết tay của chính Marilyn Monroe, gồm thư từ và những ghi chép cho chính mình, có cả những bài thơ. Thỉnh thoảng tôi mới gặp được người (bất kể đàn ông hay đàn bà, nhan sắc đủ bậc) nói / viết những điều tôi muốn chép lại để ngẫm nghĩ.

(*) Trừ câu trích cuối bài của Arthur Miller, tất cả những câu trích khác trong bài này (italic trong ngoặc kép) đều là của Marilyn Monroe.

27 thg 1, 2009

Cướp hoa ở Hà Nội (3)

Hè nhau...
... vặt trụi của "chùa"!
Bãi chiến trường...
Ảnh: dantri.com.vn

Ngày cuối năm nghĩ về hoa ở VN
Nhà thơ Hoàng Hưng

Sớm ngày ông Táo chầu Trời, nhận được email của một trí thức hải ngoại dẫn vào YouTube để chia sẻ một bức xúc. Quả tình còn hơn một bức xúc, mấy phút clip ấy là cú đấm vào mặt người Việt, sau đó là nỗi đau tê tái: những gương mặt sáng sủa roi rói vẻ “trai thanh gái lịch” Hà Nội đang miệng cười nói thật hồn nhiên tay vặt, bẻ, tước những cây anh đào rộ bông mà các bạn Nhật công phu trân trọng vận chuyển từ nước họ sang hiến cho người mình thưởng ngoạn. (Bà xã tôi xem cảnh này đã thốt lên: “Rõ là một lũ khỉ, chứ không phải người”)...

Cướp phá vô tư
Clip được tung lên ít ngày sau sự cố lặp lại về Hoa nhưng ở quy mô hoành tráng gấp bội: đêm hội Hoa quanh hồ Gươm phút chốc biến thành cuộc cướp phá thoải mái không tiền khoáng hậu, lần này không chỉ “trai thanh gái lịch” mà cả những gia đình trông đàng hoàng ra phết cũng tham gia vô tư.
Tôi nhớ ngay một kỷ niệm riêng hồi Xuân 2008, một chuyện nhỏ làm mình sững sờ: trong đêm Thơ đặc biệt mà Trung tâm Văn hoá Pháp ở Hà Nội (l’Espace) tổ chức cho cha con tôi, có khoảng 20 bó hoa rất đẹp được bạn bè, người thân mang lên sân khấu tặng. Kết thúc chương trình, hai cha con vừa bước xuống khán phòng để chào cảm ơn cử toạ thì lập tức hàng chục chàng trai cô gái ào lên sân khấu lượm gần sạch hoa, chỉ để lại cho nguời được tặng vài bó xấu nhất. Mà cũng chính họ vừa mới đây lắng nghe, cổ vũ nhiệt tình và giao lưu sốt sắng với các tác giả, chứng tỏ lòng yêu thơ khá cao (mà là thơ “hiện đại” đấy!), cũng là những khách quen của l’Espace, tức có thể coi họ là những phần tử “văn minh, tân tiến, hiện đại” trong xã hội chúng ta.
Đây là chuyện mang tính tất yếu, bản chất, hệ thống, sự hư hỏng từ bên trong con người Việt Nam sau một quá trình dài tích tụ phát triển đã lên đến đỉnh cao.


Ba sự kiện lớn nhỏ về Hoa, đủ cho thấy vấn đề không hề là ngẫu nhiên, hiện tượng, bộ phận (như kiểu đổ thừa “người mới nhập cư” chưa quen nếp sống văn minh đô thị – lý giải này đã bị nhiều người phản ứng, và như tôi dẫn chứng bên trên, hoàn toàn không thuyết phục), hoặc do lỗi khách quan, hoàn cảnh cụ thể (như trình độ, kinh nghiệm tổ chức sự kiện…tuy đó cũng là nguyên nhân đáng kể). Rõ ràng đây là chuyện mang tính tất yếu, bản chất, hệ thống, sự hư hỏng từ bên trong con người Việt Nam sau một quá trình dài tích tụ phát triển đã lên đến đỉnh cao và không tránh khỏi có dịp bộc lộ ngay ở những thành phần có thể coi là ưu tú (cũng như những sự hư hỏng kéo dài về xây dựng đô thị đã đến lúc nhân một trận mưa bất thường mà đánh chìm cả trung tâm chính trị quốc gia).
Để có sự so sánh, xin ngược dòng thời gian về những ngày hội quần chúng ở Hà Nội những năm hoà bình đầu tiên sau 1954. Người Hà Nội thế hệ chúng tôi làm sao quên được những đêm Giao thừa nườm nượp người hân hoan vũ hội tưng bừng quanh Hồ Gươm, những đêm sẽ sống mãi như kỷ niệm một thời thanh xuân lãng mạn của chúng tôi và của chế độ, những đêm sẽ sống mãi trong lời ca của Đoàn Chuẩn, trong tranh Nguyễn Tư Nghiêm?
Như vậy vấn đề chắc phải nằm ở đâu đó, nếu không trong toàn bộ quá trình thì cũng trong một giai đoạn dài của đường lối giáo dục – văn hoá, tổ chức xã hội.
Nếu xét rằng những đêm Giao thừa phơi phới, văn hoá nhất ở Hà Nội diễn ra vào những năm đầu thập kỷ 1960 (“Chào 61, đỉnh cao muôn trượng…” (Tố Hữu), ta có thể nêu câu hỏi: phải chăng vào thời điểm ấy, khi cuộc “cải tạo tư sản” chỉ vừa mới diễn ra, những chủ nhân lâu đời của các ngôi nhà ống chỉ vừa mới bị xua vào hốc tối tận cùng, những người từ đâu đến chiếm lĩnh mặt tiền vẫn còn chưa đủ thời gian để phất lên và vênh mặt với chủ cũ, và nếp sống thanh lịch của người Hà Nội truyền thống vẫn chưa phai nhạt, vẫn còn là cái chuẩn để người mới nhập cư ngưỡng mộ và cố noi theo?
Ta cũng cần nhớ: đó là thời kỳ tương đối cởi mở của chế độ do ảnh hưởng của “chủ nghĩa xét lại hiện đại”, “chủ nghĩa xã hội mang bộ mặt người”, thời kỳ những bộ phim Xô viết đầy nhân bản Người thứ 41, Đàn sếu bay qua cuốn người ta đến rạp, thời kỳ các sứ quán ở Hà Nội mở rộng cửa đón người dân vào khiêu vũ, thời kỳ “quốc tế vũ” trở thành phong trào toàn quân toàn dân (Đại tướng Võ học chơi piano và tham dự các vũ hội; bản thân tôi lúc đó, trong ban lãnh đạo Chi đoàn Thanh niên Lao Động ở một đơn vị quân đội trên miền núi cao Tây Bắc, đã được giao nhiệm vụ về Hà Nội mua đĩa nhạc cổ điển và dạy quốc tế vũ (valse, tango) cho đoàn viên mà hầu hết là con em nông dân miền xuôi và dân tộc Thái bản địa.
Nhưng chẳng bao lâu, ập tới những năm “chống xét lại” rồi chiến tranh, mọi biểu hiện văn hoá cởi mở, nhân bản, hữu nghị bị loại trừ vì “hữu khuynh”, “tạch tạch sè”, “hoà bình chủ nghĩa”, thay vào đó là một nền văn hoá thấm nhuần 3 “tính” (tính Đảng, tính giai cấp, tính nhân dân, mà “tính Đảng” được xác định là tập trung cao nhất của 2 tính kia!), hướng về mục đích tuyên truyền chiến đấu; người Hà Nội vứt bỏ rất nhanh nếp sống thanh lịch để làm quen với cuộc sống chui hầm và sơ tán, bắt đầu giai đoạn “tự bình dân hoá” về tinh thần trước khi thành phố của họ bị nông thôn hoá mạnh mẽ về thành phần dân cư và tổ chức xã hội sau chiến tranh; con người cá nhân vốn đã bị bài bác từ 1954 đến lúc này hoàn toàn bị dìm xuống cho chìm hẳn vào đội ngũ tập thể.

Khủng hoảng văn hóa
Đến giai đoạn sau 1975 thì các giá trị văn hoá Hà Nội hoàn toàn khủng hoảng với sự biến động liên tục của dân cư kèm theo đó là sự thay bậc đổi ngôi những thế lực thượng phong. Nhiều người đã nói đến sự hỗn tạp của dân Hà Nội hiện nay như nguyên nhân mất đi nét thanh lịch của người Tràng An, nhưng điều chưa được chỉ ra đúng mức (có lẽ do “nhạy cảm”) là sự mất chuẩn văn hoá bởi việc giới tinh hoa của Hà Nội truyền thống bị hạ bệ, trong khi giới mới lên về quyền và tiền còn lâu lắm mới “học làm sang” được. Chỉ cần nghe phát âm phổ biến của người Hà Nội bây giờ là biết.
Chuyện vặt hoa không chỉ là hành vi của vài cá nhân mà có nguyên nhân căn cơ hơn
Bản thân tôi đã từng sửng sốt khi nghe một ông giám đốc Sở Giáo dục Hà Nội phát biểu trên Tivi với những âm “l” - “n” lộn ngược, đã từng phải nhịn cười khi nghe một vị Vụ trưởng của Bộ Văn hoá giảng giải trong một hội thảo quốc tế cũng với những âm như thế (nhà văn Dạ Ngân cùng có mặt đã phản ứng bằng cách bỏ về!), đã từng bực bội một cách vô ích khi trên Tivi lan tràn những âm “ieo” thay vì “eo” (con mìeo bíeo)… Một khi cái tinh hoa, cái đẳng cấp cao bị hạ bệ, dĩ nhiên cái dung tục, tầm tầm sẽ lên ngôi; khi không còn văn hoá gọt giò thủy tiên cho hoa nở đúng đêm 30 Tết, ắt sẽ có văn hoá bẻ cành anh đào và cướp hoa đêm hội.
Trên đây tôi đã thử truy tìm gốc rễ của thảm họa Hoa qua quá trình tha hoá của văn hoá Hà Nội. Nhìn rộng và sâu hơn, còn có thể thấy một nguyên nhân căn bản không chỉ riêng cho Hà Nội mà cho toàn xã hội Việt Nam. Đó là mâu thuẫn trong quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng.
Một thời rất dài, cái chủ nghĩa tập thể cực đoan lên ngôi ở miền Bắc, trở thành vũ khí cực kỳ hữu hiệu trong thời chiến (chính nó đã đánh bại con người cá nhân của chế độ miền Nam). Nhưng nó đã ngày càng bộc lộ tính phi lý phản tự nhiên trong một đời sống làm ăn bình thường sau chiến tranh. Cho đến nay, đã trên 30 năm, mặc dù xã hội “xã hội chủ nghĩa” đang được điều chỉnh thành xã hội “thị trường định hướng (thực chất đang rất chệch hướng) xã hội chủ nghĩa”, thứ vũ khí nhất thời ấy vẫn chưa được xếp vào bảo tàng. Hậu quả là nó đã ngăn cản sự khẳng định cá nhân vốn là cơ sở sâu xa của một xã hội công dân - dân sự hiện đại trong đó cá nhân là thực thể duy nhất hoàn toàn chịu trách nhiệm về mọi hành vi của mình cũng như đơn vị cơ bản có toàn quyền độc lập hành xử theo pháp luật.
“Chủ nghĩa cá nhân” – individualism – cho đến nay vẫn bị coi là tiêu cực, xấu xa, đồng nghĩa với ích kỷ, duy ngã, chứ không được nhìn nhận là động lực của phát triển xã hội, là xuất phát điểm hiện thực để xây dựng một tinh thần tập thể hiện thực theo khế ước xã hội (các nhà cách mạng Nga tiền Bolchevik gọi nó là “chủ nghĩa ích kỷ hợp lý”). Toàn bộ đường lối văn hoá – giáo dục, tổ chức xã hội cho đến nay, tuy có sự điều chỉnh nhất định (như kiểu chiết trung: “ba lợi ích”), về căn bản vẫn dựa trên sai lầm rất căn bản ấy. “Cái tôi” không được tôn trọng thực sự, thì làm sao có được lòng tự trọng và sự tôn trọng người khác, làm sao có được ý thức kỷ luật tự giác, ý thức công dân tự giác, cam kết xã hội tự nguyện của từng con người cụ thể?
Một điều dễ thấy nhất: Để bù đắp lại cái quyền tự nhiên của mình bị ngăn trở, cái tôi bèn tìm mọi cách trốn tránh trách nhiệm, và “nhanh mắt, nhanh tay” ăn cắp, thậm chí ăn cướp mỗi khi “cái ta” sơ hở; nhưng cách hay nhất, thực tế đã chứng tỏ hiệu quả nhất, là lẩn trốn trong bóng “cái ta”, núp ngay dưới danh nghĩa “cái ta” mà ăn cắp, ăn cướp của chính “cái ta” và của những “cái tôi khác” yếu hơn mình (về thủ thuật này, nêu gương một cách xuất sắc chính là những vị có chức có quyền).
Mức độ nhẹ hơn nhưng hết sức phổ biến từ trên xuống dưới: khi không có điều kiện hoặc chưa đủ tâm địa ăn cắp/ ăn cướp, người ta chọn lối sống “cha chung không ai khóc”,“mackeno”. Và một trong những hậu quả của việc “cái tôi” phải “sống chui” ấy là thói đạo đức giả lan tràn trong xã hội đến mức có lần trong một hội thảo khoa học, GS Phan Đình Diệu phải cay đắng nói rằng: sự giả dối đang trở thành “bản sắc dân tộc”!
Có một chi tiết thú vị về sự đối đầu cái tôi - cái ta trong cuốn sách “Giải phẫu cái tự ngã” của chuyên gia tâm thần Nhật Bản Takeo Doi (mà tôi mới dịch cho NXB Tri thức): các nhà quan sát tâm lý xã hội Nhật nhận thấy rằng: người Nhật sống trong nước Nhật rất tuân phục kỷ luật của tập thể “nhóm” - nhiều khi đến mức có thể nói là mê muội, nhưng khi ra nước ngoài du lịch, họ thường là thành phần “quậy” nhất, có lẽ là để bù lại sự nhẫn nhịn kéo dài mà mình phải chịu trong vòng cương toả của nhóm. Phải chăng sự quậy phá mang tên Hoa của ta cũng là một cách giải toả tâm lý tương tự của người Hà Nội sau những tháng ngày chịu sự cai quản nhiều khi khiên cưỡng của cả một hệ thống từ nhà trường, đoàn thể, đến khu phố, làng xóm, gia đình?
Tất nhiên, nói đến lòng tự trọng và phẩm giá của cá nhân như cái gốc bên trong của văn hoá ứng xử trong đời sống xã hội, cũng phải đồng thời nói đến sự chế tài của xã hội như môi trường nuôi dưỡng và uốn nắn cái gốc ấy. Nếu như ở thôn quê, sự chế tài này nhiều khi được thực hiện qua các thiết chế nhỏ sát sườn với cá nhân như dòng họ, chòm xóm… thì trên những đường phố, quảng trường đô thị, nơi cá nhân có thể được thả mình tự do trong tư cách incognito, chỉ có sự chế tài duy nhất hữu hiệu là một luật pháp nghiêm minh (minh: công bằng, vô tư, minh bạch) đi đôi với một phản ứng cộng đồng nhanh nhạy. Phản ứng cộng đồng thì như trên đã nói, bị tê liệt từ lâu vì lối sống “mackeno”.
Còn luật pháp, nguyên tắc là muốn nghiêm thì phải minh. Thử hỏi: truớc thực trạng thi hành luật pháp vừa lỏng lẻo vừa tùy tiện lại nhiều khi bất lực, với sự thao túng lắm lúc rất lộ liễu của quyền lực, với những cảnh tham nhũng của chính lực lượng chế tài diễn ra hàng ngày trước mắt người dân, liệu cá nhân có đủ lòng tin lẫn sự nể trọng luật pháp để tự điều chỉnh hành vi của mình? Phải chăng vì thế mà Hà Nội lâm vào một tình trạng mà nhà thơ Lê Đạt trong buổi trò chuyện cuối cùng trước khi qua đời ít lâu đã gọi là “vô chính phủ”? Ông đã không quá lời: sự cố đêm hội Hoa vừa qua chứng minh sự tinh tường của ông.
Nghĩ lan man từ thảm hoạ mang tên Hoa ở Hà Nội, cuối cùng cũng phải đụng chân tường, đó là những vấn đề thuộc bản chất thể chế cần có sự dũng cảm để thay đổi, mà thảm họa Hoa là lời báo động có thể là tối hậu. Không thể để cho nhân cách của người Việt mình xuống thấp hơn nữa.

Cướp hoa ở Hà Nội (2)

“Hoa tặc”, “cây tặc” & sự xuống cấp chất lượng sống cộng đồng

Vào mấy ngày đầu năm dương lịch 2009, sự kiện tô đậm trên báo giấy, báo mạng, blog, là chuyện: “Hoa tặc”. Danh từ “hoa tặc” được dùng để định nghĩa hành vi của số đông người đã đã công khai “mở hội” ngắt, hái, bưng, bê... làm tang hoang cả cái lễ hội đường hoa lần đầu tiên được tổ chức ở thủ đô Hà Nội.

Và việc dư luận trên các hệ thống truyền thông lên tiếng báo động với đủ thứ ngôn từ biểu cảm, từ lắc đầu ngao ngán đến phẫn nộ rơi nước mắt... đã cho thấy phần nào sự lành mạnh của dư luận, cũng như cho thấy toàn cảnh một vấn nạn tan hoang khác, đó là: tình trạng dần dần biến mất những chuẩn mực văn hoá ứng xử cộng đồng của xã hội hôm nay.
T là một người Sài Gòn, từng được tuyển vào bộ đội vào năm 1976. Ông từng là lứa thanh niên ở phía Nam đầu tiên ra Hà Nội học quân sự. Ông kể.
“Lúc đó, mua tem phiếu uống bia; muốn có bia thì phải đứng canh cái ly của ai đó đang uống để giành ly. Sau đó các cửa hàng bia thủ đô gọi là học tập tp Hồ Chí Minh thực hiện việc phục vụ tại bàn, nhưng chỉ được một thời gian ngắn lại quay ra bán tem phiếu, và khách hàng phải tự phục vụ. Tôi hỏi lý do, thì các cô mậu dịch nói: ‘Phục vụ kiểu trong ấy cứ sơ ý là họ biến đi đằng nào không rõ, mất sạch tiền, chúng em phải đền.’ Nhân chuyện đường hoa Hà Nội vừa bị vơ vét, tôi kể lại ra việc này vì nhớ hoài những đôi mắt đỏ hoe của các cô mậu dịch, của các bà các chị cột bó rau con cá sau yên xe đạp mà bị kẻ cắp làm cho biến đi đằng nào chẳng rõ.”
Tất nhiên trong cái thời đời sống khó khăn thì chuyện gì cũng có thể tìm ra lý do thông cảm được . Nhưng trong chuyện đường hoa mừng năm mới 2009, và trước đó là chuyện triển lãm hoa anh đào Nhật, cái diện mạo và tâm tính ứng xử văn hoá cộng đồng tệ hại của không ít người mang danh là công dân xứ kinh kỳ đã làm nhiều người cảm thấy khó hiểu. Hoạ sĩ Trịnh Cung nói. “Hoa là thứ không thể ăn được, vậy thì tại sao...!” Một nhà thơ nói: “Khi mà tài sản vật chất công cộng được các quan chức đua nhau nhũng lạm ngon lành mà không bị xử lý triệt để, thì hệ quả đương nhiên sẽ sản sinh ra những hành vi của một số công dân công khai chiếm đoạt tài sản văn hoá tinh thần công cộng.”
Những bài học về tài sản tinh thần công cộng không phải là một thứ triết học hoang tưởng, và không phải là không được truyền đạt trong hệ thống giáo dục hiện nay. Nhưng vụ “hoa tặc” lần này và một số vụ việc cưỡng đoạt thô bạo tài sản vật chất và tinh thần khác đã khiến những ai có ý thức phải trăn trở. Và có khi, không thể ngăn được, họ kết luận rằng: Đã bắt đầu tiến trình tan rã của những nỗ lực giáo dục của cả gia đình và xã hội. Và thủ phạm chính, ai cũng có thể chỉ ra, là những “tấm gương” nhũng lạm tài sản tinh thần và vật chất công cộng, chính những kẻ núp bóng dưới danh từ “đầy tớ nhân dân” đang công khai thụ hưởng vinh hoa phú quí từ vô số những nguồn của cải bất minh. Vụ án đại lộ Đông Tây, vụ buôn lậu sừng tê giác, vụ phi công dính vào đường dây ăn cắp và tiêu thụ hàng ăn cắp ở Nhật, vụ một đội phó Cảnh Sát Giao Thông hối lộ cả tỷ đồng... Và tất nhiên người ta sẽ không lạ khi ngay sau vụ “hoa tặc” lại tiếp tục xảy ra vụ “cây tặc”.
Ngày 7/1 báo Thanh Niên đưa tin: Bà Tổng giám đốc Phạm Thị Thanh của công ty vận Tải Thuận Thảo, một đại gia nổi tiếng ở Phú Yên, đã công khai cho nhân viên bứng hàng loạt cây xanh công cộng của thành phố Tuy Hoà, đem vào resort của bà trồng làm kiểng. Khi bị bắt quả tang, bà Thanh hùng hồn tuyên bố là được phép của chính quyền thành phố cho bứng cây cổ thụ về làm của riêng. Và để “khắc phục hậu quả” ăn cướp cây xanh, bà “cây tặc” này hứa sẽ xuất tiền túi (như một cách làm từ thiện) cho trồng cây con thay vào!!!
Bất cứ một công dân nào ở Việt Nam cũng có thể thống kê những “tấm gương” ngang nhiên chà đạp luật pháp và các chuẩn mực giá trị công đồng xã hội. Và phản ứng của những người chiếm đoạt hội hoa ở Hà Nội hay những vụ khác tương tự như thế sẽ chỉ là những phản ứng ban đầu, và không ai biết chắc sẽ còn tiếp tục việc gì nữa, và đi xa tới đâu.
Bởi vì với mỗi con người, ranh giới giữa hành vi tiêu cực và tích cực rất mỏng manh, và họ phải thường trực sống trong một xã hội nơi tất cả những người có ý thức thượng tôn pháp luật và những chuẩn mực văn minh thật sự đang bị dồn ép về một phía quá mỏng manh. Những nhà báo đấu tranh chống tham nhũng, những công dân tìm công lý cho mảnh đất kiếm cơm, những thanh niên biểu tình vì Hoàng sa - Trường sa... tất cả họ đều quá mỏng manh. Hay nói cách khác, chính lòng yêu nước và khát vọng mong cầu một chất lượng sống văn minh đã khiến họ trở nên mỏng manh như thế.

Trần Tiến Dũng
ảnh: img.photobucket.com

25 thg 1, 2009

Đời này ta còn gặp mẹ được mấy lần?


Đời này ta còn gặp MẸ được mấy lần?

Đêm qua tắt tivi xong lên giường nằm đọc sách, nhưng chẳng vào. Bật điện thoại nghe FM, tình cờ nghe được câu chuyện khiến ta giật mình tự hỏi: Đời này ta sẽ còn gặp mẹ bao nhiêu lần nữa?

Có người mỗi năm chỉ về thăm mẹ một lần. Nếu mẹ còn sống được 20 năm nữa, thì họ cũng chỉ còn được gặp mẹ vỏn vẹn 20 lần. Nhưng với không ít người, mẹ chỉ có thể còn sống trên đời này khoảng 10 năm thôi, vậy là chỉ còn 10 lần gặp mẹ. Khoảng thời gian mẹ còn trên đời này của mỗi người có thể ngắn hơn nữa; chắc chắn nhiều người không dám nghĩ tiếp.
Chủ đề mà chương trình phát thanh đưa ra trò chuyện cùng thính giả xoay quanh câu chuyện của một chàng trai từ miền quê lên thành phố lập nghiệp. Sau khi học xong, anh ở lại và bắt đầu đi làm. Thời gian trôi đi, 5 năm liền anh chỉ về quê thăm mẹ được một lần.
Mới đây, anh đón được mẹ lên thành phố sống với mình, không được bao lâu anh phát hiện mẹ bị ung thư giai đoạn cuối.
Vậy là ngoài giờ đi làm, anh dành tất cả thời gian còn lại bên mẹ. Thật muộn màng khi anh nhận ra rằng mình thật có lỗi với mẹ. Thời gian cứ thế từ từ ngắn lại mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi khắc trôi qua... Lúc này, anh mới thấy sự quý giá của những khoảnh khắc được ở bên mẹ.
Đời này ta sẽ còn được gặp mẹ bao nhiêu lần?

Con người thường không dễ nhận ra những gì quý giá nhất đang ngày từng ngày dần rời bỏ mình...
Xã hội không ngừng phát triển, cuộc sống ngày càng nhiều áp lực. Mỗi người đều mải lo cho sự nghiệp và cuộc sống bề bộn của riêng mình: Tìm kiếm cơ hội làm ăn, quan hệ xã hội, thù tiếp khách khứa, bạn bè rồi học thêm cái này, cái nọ... Nhiều người ở quê lên, mỗi năm chỉ có thể thu xếp về thăm bố mẹ được một đôi lần. Nhưng cũng không ít người sống gần mẹ ngay trong cùng một thành phố, mà cũng chẳng có thời gian tới thăm mẹ một năm được mấy lần.
Liệu mỗi người có thực sự là bận đến mức không còn thời gian dành cho cha mẹ?
Còn nhớ một lần bạn tôi đã hỏi: "Mỗi năm về thăm bố mẹ được mấy lần?". "Hai, ba lần gì đó" - tôi đáp ơ hờ cho qua chuyện vì chẳng mấy quan tâm. "Các cụ cứ thích tất cả các con ở loanh quanh đâu đấy, để khi muốn là gặp được ngay mới thỏa" - bạn tôi nói.
Lúc trước tôi chẳng hiểu sao cứ mỗi lần anh em chúng tôi về không đủ, là y như rằng mẹ tôi cứ hỏi "sao cả mấy đứa không về cùng?", và đau đáu, hờn giận khi trong chúng tôi có đứa bận việc suốt, không về với mẹ.
Vậy nên, "Đời này mình còn được gặp mẹ bao nhiêu lần?" là câu hỏi rất nên được tự hỏi mỗi ngày cho tất cả những ai đang còn mẹ...
(Theo Thái Lộc An Khang's blog)

23 thg 1, 2009

Yêu nước!

Yêu nước!
Huy Đức

Năm 2008 đã ở ngay trước mặt. Ngày mai. Hy vọng có phép mầu nào đó khiến cho sập cầu, dịch bệnh… sẽ chỉ là chuyện cũ. Trong năm qua, biết bao “thiên tai” đã đeo đuổi người dân từ Nam ra Bắc; để rồi cuối năm, cảm giác “địch họa”, lại bỗng đâu, lởn vởn trong đầu. Tổn thất nhiều của cải; mất không ít mạng người. Nhưng, qua những cái “họa” xảy ra năm 2007, tình người cũng có cơ để thấu đạt; lòng dân, nhân dịp, cũng tỏ tường.

Tưởng, trong cuộc sống hối hả hôm nay, ai cũng chỉ lo “vợ bịu, con ríu”, nào hay, hàng triệu trái tim Việt Nam vẫn như lửa đốt, sau những lời hống hách, gợi nhớ: Đảo xa vẫn “nghênh ngang” hình bóng “cú diều”. “Lòng yêu nước” trong những ngày cuối năm, điệp khúc mà không hề sáo rỗng; dấy lên mà không lệ thuộc bất cứ một nghi thức bao cấp nào. Dân ta lại “yêu nước nồng nàn”, đúng như tiên liệu của Hồ Chủ Tịch, mỗi khi bàn đến vấn đề “đất đai của tổ quốc”.
Giành lại “từng tấc đất thiêng liêng” là khát vọng không hề ngưng nghỉ. Nhưng, “chiến tranh” không phải là phương thức duy nhất để một dân tộc bày tỏ lòng yêu nước của mình. Câu chuyện do ông Nguyễn Trung, Nguyên Đại sứ Việt Nam tại Thái Lan, kể, đã trở thành một đề tài, gần đây, được bàn luận. Theo ông Nguyễn Trung: Trong một cuộc tiếp kiến với Thủ tướng Thái Lan, một nhà lãnh đạo ta đã nói: “Chúng tôi tự hào vì đã đánh thắng ba đế quốc to”. Vị Thủ tướng Thái Lan nói: “Chúng tôi cũng tự hào vì không phải đánh nhau với đế quốc to nào cả”.
Thái Lan có một “địa chính trị” ít nhiều khác biệt. Và, chúng ta có quyền tự hào về những cuộc “kháng chiến” trong lịch sử của mình, vì những cuộc chiến đó, chủ yếu được tiến hành để đánh đuổi quân xâm lược. Nhưng, những câu chuyện của người Nhật, người Thái trong thời điểm mà các đế quốc châu Âu lùng kiếm thị trường, thuộc địa, không phải là không đáng để cho chúng ta chiêm nghiệm trong những ngày này.
Học sử, có lẽ ai cũng nhớ đến sự tuẫn tiết của Nguyễn Tri Phương, khi ông không thể nào giữ được thành Hà Nội (1873). Nhưng, có lẽ ít ai biết được, sáu năm trước đó, ông được xếp chung với Phan Thanh Giản trong “Chiếu buộc tội” của Vua Tự Đức, khi để mất 3 tỉnh miền Tây.
Lịch sử suốt trăm năm qua chưa bao giờ nghi ngờ gì về tấm gương trung liệt của Nguyễn Tri Phương. Nhưng Phan Thanh Giản thì gần như vẫn bị coi là người bán nước. Phan Thanh Giản không chỉ là người thay mặt Tự Đức ký “Hòa ước năm Nhâm Tuất”, “nhượng” cho Pháp 3 tỉnh miền Đông (1862), mà còn là người “thủ hòa” để cho người Pháp thôn tính dễ dàng 3 tỉnh miền Tây còn lại.
Ba giờ chiều ngày 20-6-1867, Vĩnh Long chính thức bị người Pháp chiếm đóng, Phan Thanh Giản khi đó đã ngoài 70 vẫn được Tự Đức cử vào Nam để giữ phần đất mà trước đó, một tướng tài như Nguyễn tri Phương cũng không làm gì được. Phan Thanh Giản đã phải gửi công thơ cho các Tổng đốc An Giang, Hà Tiên, nói rằng trước sức mạnh “tàu đồng, súng lớn” của “Phú Lãng Sa” như vậy, hãy giao chính quyền cho họ vì “mỗi lần chiến đấu, là mỗi lần thêm đau khổ”.
Khác với Phan Thanh Giản, 6 năm sau khi trấn giữ thành Hà Nội, Nguyễn tri Phương cự tuyệt tất cả những điều kiện của Garnier, để rồi bị đánh úp, để Hà Nội rơi vào binh đao của giặc. Nguyễn Tri Phương bị thương nhưng từ chối mọi sự cứu chữa của người Tây, chết sau khi tuyệt thực gần một tháng (1873). Phan Thanh Giản “hòa” vì cho rằng đánh Tây vào lúc ấy cũng ví như “nai bắt cọp”, tang thương ắt hẳn xảy ra mà những tang thương ấy, ông nghĩ, cũng sẽ chỉ “đè lên đầu dân mà trời đã giao cho ta” chăm sóc. Cũng như Nguyễn Tri Phương, Phan Thanh Giản cũng tuẫn tiết bằng cách uống thuốc độc sau khi tuyệt thực 15 ngày.
Sẽ không thể chia sẻ thực sự câu chuyện này nếu không tham chiếu những bài học mà người Nhật đã từng áp dụng. Trong cái thập niên 50 của Thế kỷ 19 mà “giặc Tây” đến nước ta đó, người “Tây” cũng đến Nhật. Chính quyền Tokugawa với những chiến binh Samurai hùng mạnh vốn vẫn coi Tây là “man di” đã thức tỉnh khi người Trung Hoa thua Anh trong cuộc chiến tranh Nha Phiến để phải nhục nhã hiến rất nhiều nhượng địa cho “man di”.
Nhưng người Nhật chỉ thực sự thay đổi khi “tàu đồng, đại bác” của Mỹ xuất hiện trước cửa biển. Cũng để khai phá thị trừơng, nhưng theo cách của những kẻ mạnh, tháng 7 năm 1853, Tổng thống Mỹ cho đề đốc Matthew Perry dẫn chiến hạm “Hắc Thuyền” đến cảng Uraga. “Bốn chiếc thuyền chạy bằng hơi nước và mấy chục khẩu đại bác của Perry đã làm xáo trộn không khí thanh bình của thành phố Edo” (Nhật Bản Cận Đại- Giáo sư Vĩnh Sính). Phái chủ chiến không phải là không đòi đánh. Nhưng chính quyền Nhật đã đủ tỉnh táo để nhận ra rằng, những kẻ mà lâu nay tưởng là man di, té ra đang nắm giữ những tiến bộ mà người Nhật chưa từng nghĩ tới. Người Nhật đã “cúi đầu” chấp nhận “tự do mậu dịch” trước người Mỹ và sau đó, trước cả Anh, Nga và Hà Lan.
Hơn 30 năm sau, trong khi triều đình Huế vẫn chưa thống nhất được chính sách với người Tây, lúc thì “hòa” trong nhục nhã; lúc thì “chiến” trong vô vọng, thì người Nhật đã lại ngẩng cao đầu. Người Nhật, ở trong nước thì Duy tân theo chính sách của Minh Trị Thiên Hoàng, ở bên ngoài thì mở rộng giao thương và gửi người đi khắp nơi tìm học. Trong thập kỷ 80 của Thế kỷ 19, khi Triều đình Huế thất thủ hoàn toàn, thì ở Nhật, Minh Trị Thiên Hoàng yêu cầu các nước Tây Phương phải ký lại tất cả các thương ước trên một tư thế hoàn toàn khác.
Nói về sỹ khí, có lẽ không mấy dân tộc trên Thế giới này có thể so bì với những chiến binh Samurai của Nhật. Nhưng, cái cách người Nhật ứng xử trước đội “Hắc Thuyền” của đề đốc Perry và trước thất bại năm 1945, mới thấy, nếu không nghĩ tới quyền lợi dài hạn của dân tộc thì giữ khí tiết, theo một cách nào đó, có thể đem dân tộc mình tới chỗ tự sát. Bạn và kẻ thù chỉ là tạm thời, chỉ có quyền lợi của dân tộc mình là vĩnh viễn, người xưa đã nói như vậy và lịch sử chứng minh, ai nắm được chân lý ấy người đó sẽ chiến thắng.
Nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt, nhân những sự kiện mới xảy ra gần đây, đã nhắc lại một kinh nghiệm khắc cốt, ghi xương: “Mỗi quốc gia, dù dưới ý thức hệ nào cũng đều phải lấy lợi ích dân tộc làm điểm xuất phát”. Là một người cộng sản, chiến đấu kiên cường, nhưng ông Võ Văn Kiệt đồng thời cũng là người, qua các “nhục, vinh” mà trải nghiệm. Năm 1954, đang ở miền Nam, chính những người như ông Kiệt đã hết sức băn khoăn khi ở Geneve, những “người anh em” đã quyết định đặt “giới tuyến”, cho dù chúng ta vừa làm “chấn động địa cầu” sau “Điện Biên Phủ” và chưa có thời gian để biết thực sự “Vĩ tuyến 17” nằm ở đâu. Nếu không đặt niềm tin quá sâu vào những người có cùng “ý thức hệ”, có lẽ, chúng ta đã phản ứng khác trước các sự kiện biển Đông hồi thập niên 50 và 70.
Nhưng, như tâm sự của ông Võ Văn Kiệt, điều ray rứt nhất, dẫn đến phát biểu đó của ông, là từ những gì mà ông chứng kiến những năm sau 1975. Lịch sử đất nước lẽ ra đã bắt đầu một thời kỳ trọn vẹn thống nhất, nhưng sự định đặt khuôn khổ “duy nhất một con đường” cho lòng yêu nước lúc đó, đã khơi thêm không ít vết thương trong lòng dân tộc này.
Tiến sỹ Phạm Duy Nghĩa đã rất hay khi viết, nhà nước dù mạnh tới đâu cũng không thể nói thay tiếng nói của nhân dân. Một nhà nước biết lắng nghe tiếng nói của nhân dân, sẽ nhận được sức mạnh từ lòng yêu nước bắt đầu từ “năm bảy con đường” thay vì từ “duy nhất một con đường” bao cấp, như lời của ông Võ Văn Kiệt.

Ca nương nối nghiệp

Ca nương nối nghiệp

Bên Đài nghiên, Tháp Bút đứng chon von,

Chép hào khí Thăng Long ngàn vạn thuở…


Tiếng vỗ tay chưa dứt, ba vị trong ban giám khảo đã chụm đầu bàn bạc. Cuối cùng họ quyết định trao huy chương vàng và giải Ấn tượng nhất cho tiết mục ca trù Dấu đẹp Hồ Gươm, Nguyễn Thị Bạch Dương, cán bộ Phòng Thương mại Việt Nam (VCCI), trình diễn.

Công bố giải xong, Trưởng ban Giám khảo, nhạc sỹ Phạm Tuyên, bước xuống mà trong lòng thắc mắc: làm sao cô gái trẻ ấy lại có thể hát ca trù thế này. Bất chợt ông nhìn thấy trong đám đông một người từng làm chung ở đài Tiếng nói Việt Nam (TNVN), bà Phó Kim Đức. “Học trò của bà phải không?”. Bà kim Đức gật đầu.

Chuyện bắt đầu khi bà cô Phó Thị Yến, một đào nương, lấy chồng về Khâm Thiên rồi đem 3 người cháu ruột của mình ra nuôi và truyền nghề. Người anh là Phó Đình Ổn, thân sinh của bà Kim Đức. Cụ Ổn về sau trở thành một tay đàn có tiếng, được tôn làm quản ca giáo phường Khâm Thiên. Năm Kim Đức lên 7, ông bắt đầu dạy cho con gái học cầm từng lá phách.

Kim Đức bắt đầu đi hát từ năm 13 tuổi, cho các nhà hát hoặc có ai kêu thì đi, gọi là đi hát mảnh. Thường một mảnh hát chỉ được trả 2-3 đồng bạc, nhưng những người cầm chầu lại vốn là những văn nhân hào hoa, chỉ cần một luyến láy mủi lòng là khách lại có thể đặt lên tang trống vài đồng bạc thưởng. Một mảnh hát chỉ có hai người, một tay đàn đáy, một ca nương kiêm giữ phách, còn các quan viên thì vừa thưởng thức, vừa đồng thời điểm trống. Nhà văn Nguyễn Tuân, khi ấy có vợ là bà Chu Thị Năm, vốn là một đào nương nổi tiếng. Khi Kim Đức còn học hát, ông tới nhà nghe, rồi bảo: “Có tương lai đấy!”.

Ca trù là một nghệ thuật công phu, sang trọng. Nhưng, bà Kim Đức kể, những năm 30, có không ít người xin môn bài, mở nhà hát nhưng thực chất bên trong cũng biến trướng đủ điều. Khi thấy, không ít kẻ tìm đến Khâm Thiên không còn là để thưởng ngoạn mà chỉ để đi cô đầu, ông Phó Kim Ổn nói với con: “Biết nghề thế này, bố đã chẳng dạy cho con hát”. Năm ấy Kim Đức đã bước sang tuổi 15, giọng ca càng ngọt, nhan sắc càng thắm.

Cách mạng tháng Tám, cụ Ổn vinh dự được mời lên nhà Khai Trí Tiến Đức, cùng với các nghệ sỹ khác, hát đón cụ Hồ. Giáo phường Khâm Thiên diễn Lưu Bình - Dương Lễ lấy tiền cứu đói, Kim Đức tham gia trong đội múa bài bông. Nhưng, “ngày vui ngắn…”. Người Pháp trở lại. “Toàn quốc kháng chiến”. Cụ Ổn trúng đạn chết trên đường đi tản cư. Phó Kim Đức bị thương. Mẹ bà lúc ấy đang mang thai người con út. Sinh xong, tưởng chết. Làng lại gần Tề, lâu lâu lại nghe chuyện cướp, hiếp. Tiền hết. Ba người anh đi bộ đội, một người anh bị bắt, hai em còn nhỏ, năm 1948, bốn mẹ con trở lại Khâm Thiên.

Hồi cư được ít lâu, xoay xở vài công việc, thì bà Mộng Hoàn mở nhà hát, bà cho gọi Kim Đức tham gia. Mấy tháng sau, Tây thả anh trai Phó Đình Kỳ của bà, hai anh em lại đi hát mảnh. Những năm ấy, Kim Đức lớn dần, cô đào tuổi 19, 20, chỉ cần vặn đàn vài tiếng dạo qua, là đã đủ để khiến cho biết bao văn nhân dừng thuyền ghé lại. Rồi, “hòa bình”. Không còn hào sảng như thời nghe bà luyến láy trong câu Lá ngô đồng rụng, cụ Nguyễn gặp lại bà chỉ kín đáo chào. Không ai muốn dính líu tới cái thời hát cô đầu ở Khâm Thiên nữa. Bà Phó Kim Đức đi sản xuất đồ nhựa rồi làm nghề đan len nuôi con. Bảy tám lượng vàng mà bà dành dụm được thời đi hát do “thật thà khai báo” nên phải bán cho nhà nước, giá chỉ bằng một phần rất nhỏ so với giá chợ đen, tiền đi nhanh như gió vào nhà trống.

Tình cờ, bà gặp nhạc sỹ Nguyễn Văn Khánh, ông kêu bà nộp đơn vào Trường Ca kịch Dân tộc. Ở đó bà học hát chèo từ cụ Cả Tam. Ở đó, bà được đài TNVN mời thu thanh rồi mời về làm việc. Trong suốt hơn hai thập kỷ, 60 đến 80, không ai ở miền Bắc là không biết giọng ca trau chuốt, trầm buồn trong những bản chèo như Bao chiến công lừng vang, Đi trong vườn quả bác Hồ… của Kim Đức.

Năm 1986, nghỉ hưu, bà được đài TNVN ưu tiên cho nhận mấy tạ lạc về bóc. Bóc lạc xong, phân loại, rồi đưa trở lại Đài, xếp hàng cả ngày mới tới lượt giao nộp lạc nhân cho nhà nước. Chờ đợi mỏi mệt, đang nằm nghỉ trên những bao lạc thì có người kêu: “Cô Kim Đức, cô hát cho chúng tôi nghe đi”. Trong số những người giao lạc hôm ấy có nhà báo Thụy Chóng. Cô nhà báo lập tức hỏi: “Kim Đức nào? Kim Đức mà phải đi bóc lạc ư?”. Thụy Chóng viết một bài báo về bà rồi năn nỉ: “Chị ơi, chị thương em chị thu cho em mấy bài ca trù”. Hơn 30 năm không một lần gõ phách, tự nhiên hàng trăm câu hát hiện về, Nghe não nuột mấy dây bứt rứt/ Dường than niềm tấm tức bấy nay…

Lúc bấy giờ, bà Kim Đức nghĩ tới việc truyền nghề. Nhưng, nhiều người bảo bà dạy, bà từ chối. Cái năm quỹ Ford tài trợ, Bộ Văn Hóa mở một lớp ca trù trong hai tháng, cho người xuống kêu bà. Bà bảo: “Hai tháng chưa cầm nổi lá phách, học cái gì”. Họ bảo, bà không làm thì chúng tôi làm. Đúng là họ làm được thật, nhưng bà xem họ hát xong thì tủi. Bà bắt đầu bằng cách truyền cho cô cháu nội, năm ấy lên 9, nhưng rồi cô bé ham học văn hóa hơn. Người đầu tiên bà dạy thành công là nghệ sỹ ưu tú Đặng Công Hưng. Anh Hưng chơi đàn nguyệt ở Nhà hát Chèo, sau đó nhờ bà dạy chơi đàn đáy. Nhưng bà bảo: “Mày chỉ đàn rồi cứ bắt tao ca mãi sao!”

Ít lâu sau, có một Việt Kiều ở Pháp về Hà Nội làm ăn, tên là Đàm Quang Minh. Ông Minh say mê ca trù, nên cứ một năm lại tổ chức hát ở Tây Hồ hai lần. Năm 1999, vợ chồng chị Nguyễn Thị Bạch Dương may mắn có mặt trên thuyền của ông Minh. Chị Dương kể: Tôi xuống thuyền rất sớm và lập tức ấn tượng khi thấy một bà cụ đẹp sang trọng, mặc áo dài nhung, bên ngoài khoác áo dạ đen. Chọn góc chiếu phía đối diện ngồi chờ, tôi mê mẩn đôi bàn tay gõ phách của bà và đặc biệt là giọng hát. Tôi hỏi chồng, “Bà ấy hát gì đấy?”, anh Hải, chồng tôi nói: “Ca trù”. Ngay sau đó chúng tôi tìm mọi cách làm quen với bà, chỉ định để tìm hiểu, vì nghĩ “ca trù sang cả quá, mình làm sao với tới”.

Đến nhà, bà hỏi thăm: “Cha mẹ làm ở đâu?”. Chị Dương: “Dạ, làm ở đài TNVN ạ”. “Tên gì?”. Dạ, Tâm”. “Tâm Liên Xô phải không?” Thế là thành người nhà. Bà nói: “Hay là đưa con bé tới đây!”. Năm ấy, bé Nguyễn Thanh Thảo mới 5 tuổi. Trở lại câu chuyện đã nói ở đầu bài, nhạc sỹ Phạm Tuyên khi biết cái cô hát Dấu đẹp Hồ Gươm là con gái “Tâm Liên Xô” lại càng ngạc nhiên: “Tôi nghe, con bé ấy nó Tây lắm mà?”. “Vâng!”.

Chị Bạch Dương sinh tại Nga, năm ấy, mẹ chị đang làm chuyên gia ở đài phát thanh Matxcơva. Chị học sư phạm Ngoại ngữ, có hai năm chuyển tiếp ở Nga, sau đó học tiếp đại học Ngoại thương. Dương học nhạc từ nhỏ nhưng chủ yếu là học các dòng nhạc hiện đại. Trước khi lấy chồng, chị đã là một dancer nổi tiếng, từng đoạt đôi giày vàng toàn quốc và đã vào tận Sài Gòn “tầm sư”. Khi “tán tỉnh” chị Dương, anh Nguyễn Văn Hải, làm ở Ban Quốc tế, VCCI, cũng theo không thiếu sàn nhảy nào. Nhưng, sau khi cưới, anh thú nhận là chỉ say mê cổ nhạc. Thoạt đầu, chị Dương chỉ nghĩ “xuất giá thì phải tòng phu”, không ngờ chị cũng… theo chồng.

Từ năm 1999, hai vợ chồng cứ sau giờ làm việc, cơm nước xong là, cả nhà lại lên xe máy chạy từ Bác Cổ xuống nhà bà Kim Đức ở Ngã Tư Sở. Thoạt đầu, định chỉ học một tuần hai buổi, sau học luôn một tuần 7 buổi. Lúc đầu, chỉ định nhờ bà dạy cho bé Thảo, nhưng, con bé cứ học được một lúc lại mệt quá, ngủ thiếp đi. Bà bảo: “Nhỡ đến khi nó lớn thì bà yếu mất, thôi thì vợ chồng mày học”. Sau hai năm liên tục thấy vợ chồng lên xuống vất vả, bà lại bảo: “Để bà lên ở với vợ chồng mày, rảnh lúc nào, bà dạy cho lúc ấy”.

Đầu tiên, bà dạy cách ngồi. Suốt nhiều tuần, bà sửa từng tý để làm sao ngồi đúng như một ca nương. Tiếp theo là học phách. Mấy tháng trời, hai bàn tay cầm lá phách, mỏi dừ mà không làm sao gõ đúng. Tập cho đến một ngày, hình như ngộ ra, tay tự nhiên không căng thẳng nữa, thế là gõ được. Học ca đàn, ca phách thành thạo trong vòng hai năm, bà mới cho học hát. Chị Dương kể, nhiều lúc rất nản, trên đường về, ôm con, úp mặt vào lưng chồng, khóc. Biết tính chị Dương đã làm gì là muốn làm cho bằng được, anh Hải lại động viên, hai vợ chồng lại kiên trì. Cứ thế, trong vòng 7 năm, anh chị cùng học, cùng đàn ca và cùng làm giàu thêm văn hóa ca trù cho mình.

Năm 2004, công đoàn cơ quan khối Kinh tế Trung ương tổ chức hội diễn văn nghệ, mỗi cơ quan cần phải có 5 tiết mục mới được dự thi, nhưng, VCCI chỉ kiếm được 4 tiết mục. Thế là chị Dương phải “lấp chỗ trống” bằng cách đưa vào một tiết mục ca trù. Đó là hội diễn duy nhất mà bà Kim Đức cho học trò của mình tham gia. Bà nói, con không thể thi thố với những người học ca trù trong vòng 2 tháng. Ngày mới gặp, bà hỏi: “Con muốn được bà truyền nghề hay muốn học vài bài để chơi”. Hơn ai hết, bà muốn cà trù không bị thất truyền, nhưng dạy không tới nơi thì bà sợ các cụ ngày xưa, cũng như bà, lại tủi.

Huy Đức

20 thg 1, 2009

Những gánh hàng rong... (3)


Những gánh hàng rong
xuyên thế kỷ (3)

Hiện nay ở Việt Nam người bán hàng rong gắn liền hình ảnh di dân từ nông thôn lên tỉnh thành với gánh hàng rau, củ, hoa, quả.

Đoàn quân hàng rong thực ra rất phong phú đa dạng: từ em bé bán vé số đến người bán trả góp, bỏ mối ngoài chợ, đến các bà bán ngoại tệ, hột xoàn đi lại giữa các biệt thự. Một số người bán hàng rong là thị dân, có người có nghề cha truyền con nối, nhưng đa số vẫn là nông dân trôi giạt, bán rong sản phẩm nông nghiệp hay tiểu thủ công nghiệp.
Hàng rong Việt Nam có đặc tính: phát sinh từ nền tiểu nông chuyên trồng lúa nước, với những thời gian nông nhàn hay tình trạng thừa lao động ngoài thời vụ. Coi trọng nghề nông nên bán hàng rong chỉ được coi như công việc tạm thời của người khó khăn kinh tế mặc dù có thể nguồn thu nhập từ bán hàng rong chiếm tỷ trọng đáng kể trong ngân sách gia đình.
Cũng do không được coi là công việc chính quy, chính yếu, nên thường do người có địa vị kém hơn trong gia đình thực hiện, như con dâu, con gái. Bán hàng rong do vậy không là một nghề được coi trọng, dù đóng vai trò không nhỏ trong phân phối hàng hoá.
Sự bùng nổ đô thị hoá ở Việt Nam gần đây có nghĩa là một bộ phận rất lớn dân cư đô thị hiện nay là di dân từ các thôn làng. Trong tâm thức của họ ít nhiều còn đọng tình hoài hương, nên họ là khách hàng thường xuyên của những người bán hàng rong đang gợi lại hoặc đem lại cho họ những giá trị vật chất hay tinh thần của văn hoá nông thôn. Ngược lại, nông thôn cũng tiếp nhận, cả tích cực lẫn tiêu cực, ảnh hưởng văn hoá đô thị thông qua người bán hàng rong. Trong khi đất nước đang trải qua những chuyển đổi lớn và liên tục trong nhiều lĩnh vực, nhiều giá trị chưa định hình trong khi nhiều giá trị đã biến mất, mô hình “hiện đại hoá và giữ gìn bản sắc dân tộc” còn mơ hồ, vai trò cầu nối văn hoá nông thôn - thành thị của người bán hàng rong lại không hề được đánh giá hay đặt ra. Họ chỉ bị coi là yếu tố làm mất mỹ quan những đô thị đang học làm sang.
Bản thân những người bán hàng rong Việt Nam thực ra có một hạn chế lớn, xuất phát từ chính nền văn hoá nông nghiệp của chúng ta, nơi con đường tiến thân, làm giàu, chủ yếu thông qua hoạn lộ. Nghề bán hàng rong bị coi là mạt hạng. Những người ở nông thôn (đa số phụ nữ) khi phải đi bán hàng rong thường mang mặc cảm, coi đó là sự suy vi, xuống cấp, chỉ nhẫn nại cam tâm mà làm, mơ ước qua cơn bĩ cực đến thời thái lai được trở về nhàn hạ trong ngôi nhà mình, ít người coi bán hàng rong là một cách khởi nghiệp, nên không đầu tư tâm huyết nghị lực để công việc phát triển. Chắc chắn họ có những khó khăn khách quan, nhưng tâm lý này là một trở ngại lớn.
Tính chất của hàng rong là bán lẻ và cơ động, mục tiêu là bán được cái muốn bán chứ không chỉ bán cái người ta muốn mua. Người bán hàng rong trước tiên là người biết nói năng, biết thuyết phục. Nguyên tắc dầu tiên của bán hàng rong là năng nỗ và kiên trì. Không thể bán hàng rong bằng thái độ: không mua thì thôi, đây cóc cần. Càng không thể òn ĩ lòng thương hại của người mua. Bán mua phải sòng phẳng, có tư cách và uy tín. Muốn thành công trong nghề bán hàng rong phải gan lì, xông xáo. Chính tham vọng vươn lên, muốn thay đổi, muốn tạo lập, khiến họ chuyển động, tìm kiếm và tận dụng cơ hội để bứt phá, vọt tới.
Nỗi cơ cực nghề nào cũng có, dưới những hình thức khác nhau. Mặc cảm “nhà quê, nghèo hèn, bán hàng rong như ăn xin” có thể dìm người ta cả đời trong nghề bán hàng rong. Những người bán hàng rong thành đạt là người cuối cùng bỏ lại gánh hàng rong trên con đường khởi nghiệp, mang theo vốn liếng tích lũy và những kinh nghiệm bán hàng rong đi tiếp tới những khát vọng xa hơn, hoặc mở đường cho con cái họ đi tới những ước mơ lớn hơn.
Lý Lan

19 thg 1, 2009

Những gánh hàng rong... (1)


Những gánh hàng rong
xuyên thời gian, xuyên lục địa (1)

Chỉ bằng một đoạn văn mở đầu truyện ngắn “Đồng Thanh Tương Ứng”, nhà văn Sơn Nam trình bày được tất cả năm đặc điểm của nghề bán hàng rong. Đó là một dịch vụ bán lẻ đến tận nhà người tiêu dùng, nên dân xóm Tà Lốc nếu “cần mua sắm vài vật dụng cần thiết, họ ngồi tại nhà mà chờ đợi một chú Huê kiều. Chú ta quảy gánh gióng, bán nào kim chỉ, lưỡi búa, đường thẻ, thuốc rê. Đặc biệt nhứt là loại kéo tàu, rèn tại chợ Rạch Giá.”

Dịch vụ này có từ xưa và cần thiết cho công cuộc khai hoang mở đất ở phương nam, khi thương mại và các dịch vụ xã hội khác chưa phát triển, kinh tế còn sơ khai, thu nhập của dân chúng thấp. “Xóm Tà Lốc nằm trơ vơ gần khu rừng tràm, trên khoảng đất hoang dài gần năm chục cây số ngàn, giữa chợ Rạch Giá và Hà Tiên, theo vịnh Xiêm La. Thời Pháp thuộc, dân chúng xóm ấy sống biệt lập: bắt cá, đốn củi đủ ăn ngày nào hay ngày ấy… đường giao thông dường như không có.” Bán hàng rong kiếm lời dễ, “bán hàng với giá đập đổ”, nhưng rất cơ cực: “đi bộ suốt hai mươi cây số, qua vùng đất phèn đầy muỗi mòng rắn rít”, và đầy rủi ro: “Lắm khi, chú Huê kiều bị gãy gánh giữa đường thương mãi: hàng hóa và tài sản bị tịch thâu, thân xác chú ta còn chịu thêm trận đòn nhừ tử, kêu trời thì không thấu, kêu làng lính ở tận đâu đâu.” Do vậy nghề này thường là chọn lựa của những di dân không căn cơ bản địa như “chú Huê kiều”. Cuối cùng, tính chất cơ động, vất vả của dịch vụ đòi hỏi tiếp xúc cá nhân trực tiếp này giữa di dân và người bản xứ luôn tạo ra chuyển biến văn hoá trong quá trình hội nhập: “Dân trong xóm lần hồi thương mến chú Huê kiều. Khi đi qua xóm, chú ta rao hàng nghe lơ lớ, não ruột: - Kéo tàu! Ké.... éo tàu!”

Lý Lan