Hiển thị các bài đăng có nhãn Cau chuyen van hoa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Cau chuyen van hoa. Hiển thị tất cả bài đăng

19 thg 1, 2009

Những gánh hàng rong... (2)


Những gánh hàng rong
xuyên thế kỷ (2)


Hình ảnh tương đương “chú Huê kiều” bán hàng rong ở vùng Đông Nam Á là người bán hàng rong Do Thái ở châu Âu ngày xưa. Không có một quê nhà, dân Do Thái rải khắp châu Âu, sinh sống bằng dịch vụ trung gian, hình thành một truyền thống và những giá trị văn hoá của dân tộc này.

Họ sống tập trung trong đô thị để có an ninh, sự hổ tương và thông tin trong cộng đồng, chia nhau địa bàn bán lẻ ở các làng xóm xung quanh hoặc vùng xa hơn. Trở về nhà sau mỗi chuyến đi bán hàng rong, họ chia sẻ thông tin các loại đã thu thập được, giúp cho bộ óc của cộng đồng hoạch định được chủng loại, qui cách, số lượng hàng hoá theo nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng, cũng như các biến động và yếu tố chính trị, xã hội có thể ảnh hưởng đến công việc và đời sống của họ.

Vào giữa thế kỷ 19, di dân Do Thái cũng như các di dân khác ở cựu lục địa Âu Á kéo sang Mỹ, thường với hai bàn tay trắng và một cái đầu đầy ước mơ. Trong quyển The Philadelphia Fels, 1880-1920: A Social Portrait, Evelyn Bodek Rosen viết là người bán hàng rong Do Thái ở Mỹ “đi ngược đi xuôi, mang hàng hoá từ nơi này đến nơi khác, những người bán hàng rong liên kết người sản xuất và người tiêu thụ. Khi chuyện trò, họ trao đổi thông tin, liên lạc những người sống nơi xa xôi hẻo lánh với thế giới bên ngoài, kết nối nông dân miền thôn dã và những người khẩn hoang nơi biên ải với thế giới văn minh. Nghề bán hàng rong cung cấp cho người Do Thái một nền học vấn, thường là nền học vấn duy nhứt mà họ có được ở Tân Thế Giới. Trước tiên người bán hàng rong học tiếng nói. Kế đến, qua giao tiếp với khách hàng, người bán hàng rong rút tỉa được kinh nghiệm và kỹ năng kinh doanh. Họ học biết được ai đáng tin cậy, có thể thổ lộ bản thân đến mức nào đối với từng người khác nhau, và hành động như thế nào trong công việc mua bán hàng ngày để mở mang kinh doanh có thêm khách hàng mới.

Tất cả những kỷ năng này sẽ rất có ích cho người bán hàng rong một khi tạo lập được cửa hàng hay doanh nghiệp của chính mình. Mục đích của mọi người bán hàng rong là trở thành một chủ tiệm, chủ doanh nghiệp. Nhưng điều quan trọng nhứt là nghề bán hàng rong đem lại cho người Do Thái sự độc lập và tự do, điều mà trong thế giới cũ châu Âu với chính quyền quan liêu và cộng đồng cũ kỷ họ đã không có được và hằng khao khát. Đơn độc trong hành trình qua miền thôn dã, người bán hàng rong cảm thấy thoát ra được những giới hạn luật lệ, tập quán, lề thói cũ trong cộng đồng, gia đình.” Những di dân Trung Hoa, Do Thái trước đây chọn nghề bán hàng rong để khởi nghiệp vì họ không cam phận làm công ăn lương, mà ôm tham vọng lớn là thay đổi cuộc đời, có được độc lập kinh tế. Nếu làm một thợ mỏ thì khó mơ trở thành chủ hầm mỏ, một thợ làm đường sắt cũng khó phấn đấu thành ông chủ hãng hoả xa. Nhưng một người bán rong hoàn toàn có thể mơ trở thành chủ tiệm. Tuy có rủi ro, nhưng cũng có cơ hội. Đó là cách thức thành đạt của không ít doanh nhân vĩ đại. Người sáng lập chuỗi cửa hàng bán lẻ Macy’s trên toàn thế giới là con của một người bán hàng rong. Người xây dựng chợ Bình Tây, Quách Đàm, xuất thân mua bán ve chai.

Lịch sử thương mại xứ nào cũng có giai đoạn hàng rong thuở ban đầu để rồi phát triển thành những hình thức kinh doanh hiện đại sau này. Đoàn quân đông đảo nhân viên bán bảo hiểm đi khắp nơi tiếp cận từng khách hàng chính là những người bán hàng rong, chỉ khác là sản phẩm của họ trừu tượng hơn vải vóc, tôm khô, kéo Tàu. Những chiếc taxi giao bánh pizza ở Mỹ hay xe gắn máy giao cơm hộp ở Việt Nam cũng là một hình thức bán hàng rong. Và bán hàng lẻ qua điện thoại, mạng internet, dù có nhân viên giao hàng hay thông qua dịch vụ bưu điện và các công ty vận chuyền, đều là hình thức hiện đại hoá dịch vụ hàng rong trong thế giới ngày nay. Cốt lõi của dịch vụ này là đưa hàng hoá đến tận tay từng người tiêu dùng, chứ không trưng bày hàng hoá ở một nơi cố định chờ người tiêu dùng tìm đến. Dịch vụ này đang ngày càng “nóng” trong thời cạnh tranh dữ dội hiện nay.
Lý Lan

13 thg 1, 2009

Mui Sai Gon

Mùi Sài Gòn
SGGP:: Cập nhật ngày 20/08/2007 lúc 22:26'(GMT+7)

Một bà bạn vong niên người Canada hỏi tôi: “Đất nước bạn có mùi gì, thành phố nơi bạn đang sống có mùi gì?” và tự hào khoe “Thành phố tôi (Vancouver) có mùi hoa tu-líp” - vì nhà bà gần một cánh đồng trồng toàn hoa tu-líp. Theo đó, Bulgaria chắc chắn thơm ngát mùi hoa hồng; Nhật Bản sực nức hoa đào mỗi độ hoa tưng bừng nở; Pháp hẳn có mùi rượu vang; Đức có mùi... xúc xích; còn Ý chắc hẳn có mùi spagetti... Người Hà Nội thì tự hào với “mùi hoa sữa nồng nàn”, còn Sài Gòn thật sự có mùi gì? Tôi đã ngẫm ngợi lung lắm mà vẫn chưa tìm ra câu trả lời. Hay tôi thực sự không biết nơi tôi đang sống có “mùi mẽ” gì?
Buổi sáng, người Sài Gòn tất bật đến cơ quan, ngang quán cơm tấm với những cái bếp nướng sườn khói mù mịt cả một đoạn đường, lúc ấy, người Sài Gòn “thơm lừng” như những dẻ sườn nướng. Chiều về, ngang mấy xe bán khoai lùi, bắp nướng, người Sài Gòn lập tức nhuốm mùi của các món ăn “thương nhớ đồng quê” này.
Tối dong xe bát phố, ngang mấy chỗ bán gà nướng, tóc tai, quần áo người Sài Gòn quyện mùi gà thôi thì nướng lu, nướng mọi, nướng muối sả, muối ớt… đủ cả. Ngang các quán hải sản, người Sài Gòn bốc mùi tôm, cua cùng mực một nắng nướng và mùi… nhậu. Vô rạp xem phim, người Sài Gòn ngan ngát mùi bắp rang.
Đến quán cà phê hay karaoke, người Sài Gòn nồng nàn mùi khói thuốc bện vào tóc tai, quần áo. Cả ngày chạy ngoài đường, người Sài Gòn nào cũng toàn mùi khói xe, mùi xăng, cùng với mùi nắng, mùi bụi, quyện với mùi từ các xe lấy rác chạy rông khắp các ngả đường; ấy là chưa kể các lề đường, góc phố, ngõ hẻm nào gần như cũng có một mùi đặc biệt kinh dị: mùi các chất thải của chó và người.

Ngang các công viên bây giờ không còn mùi lá mục hay mùi cỏ non của chục năm về trước vì người ta dần đốn hạ hoặc tỉa trụi, xà xẻo bớt cây xanh và tráng nhựa hầu hết các lối đi, hiếm hoi chỗ cho cỏ mọc. Vào đây tập thể dục hoặc thư giãn, những tưởng sẽ tránh được chút đỉnh mùi của thực tại gấp gáp, mùi phố, mùi phường, thế nhưng, mùi son phấn, mùi nước hoa bình dân quyện với mùi mồ hôi, tạo nên một mùi rất đỗi đặc trưng hành hạ những chiếc mũi nhạy cảm, đó là khi bạn đi gần nhóm của các bà, các cô; còn nếu bạn đi sau nhóm đàn ông thì vẫn cứ nồng nàn mùi nicôtin bởi các ông vẫn vừa đi bộ, vừa trò chuyện vừa phì phèo thuốc lá như ở quán karaoke, quán cà phê hay ở nhà mình.Vậy nên hễ có chút thời gian rảnh rỗi, người Sài Gòn lại tót về quê, số khác không quê hoặc quê quá xa thì phóng tuốt ra ngoại thành, tìm một chỗ chưa bị quy hoạch, giải tỏa, trải áo mưa ngồi thả diều, hóng gió, mong tìm lại chút hương đồng cỏ nội cho bớt stress, sẵn tiện thanh lọc buồng phổi được chút nào hay chút ấy.
Hít thở chán chê, lại quày quả trở về để kịp chuẩn bị cho buổi đi làm sáng hôm sau. Vừa vào đến cửa ngõ thành phố, chạm vào “mùi của Sài Gòn” đã thấy nôn nao. Mùi của tất bật, lo toan, mùi của kẹt xe, khói bụi… nhưng sao mà thân thuộc đến thế!
Thằng cháu tôi học mẫu giáo nói với mẹ nó trong một chuyến đi chơi: “Đà Nẵng, Nha Trang, Phan Thiết có mùi giống Vũng Tàu mẹ ạ. Đà Lạt lại có một mùi khác nữa”. “Thế mùi của Sài Gòn?” - tôi hỏi, và nó trả lời ngay: “Mùi của mẹ!” (là mùi của… mẹ nó).
Bạn tôi rong ruổi lang thang, chu du gần như khắp năm châu bốn bể, về nghỉ hè, vừa bước xuống sân bay đã hét toáng: “Sài Gòn! Mùi Sài Gòn đây rồi!”.
Nhóm bạn tôi thống nhất ý kiến cho rằng Sài Gòn có rất nhiều mùi và gần như không diễn tả nổi. Vậy nên tôi viết bài này gửi cho bà bạn Canada, mong khi đọc xong, bà có thể tự hình dung được cái mùi rất đặc trưng của xứ sở tôi: “Không thể diễn tả” và có lẽ cũng chính vì vậy mà không thể nhầm lẫn, không thể nào quên, giống như mùi của mẹ vậy…

songphạm

8 thg 1, 2009

Nguoi gia Sai Gon

người già
SÀI GÒN
Tuổi Trẻ cập nhật Chủ Nhật, 09/07/2006, 07:01 (GMT+7)

TT - Người già Sài Gòn hay người già nói chung ưa sống bằng hoài niệm. Điều gì vừa mới xảy ra thì chóng quên nhưng những gì thuộc về quá khứ, thuộc về kỷ niệm lại nhớ hoài, nhắc mãi...

Chính vì nhớ hoài, nhắc mãi mà người trẻ ưa cho rằng người già lèm bèm, không ít kẻ bỏ chạy thục mạng mỗi khi người già khởi sự... phát sóng. Người già từng là người trẻ với những vấp váp, nông nổi, thấy bọn trẻ làm bậy, làm liều thì ngứa mắt, chỉ muốn quát tháo, bảo ban, cũng vì thế mà người trẻ dị ứng với người già bởi những “bài giảng” bất tận. Người già có nhu cầu tâm sự rất cao, nhưng không phải ai cũng có nhu cầu lắng nghe hoặc có đủ thời gian lẫn kiên nhẫn ngồi nghe. Dòng sống cứ thế chảy trôi, chẳng ai kịp lắng nghe ai, chẳng ai kịp hiểu ai, mâu thuẫn giữa người trẻ với người già vì thế tồn tại, muôn đời…
Người già nhạy cảm với thời tiết. Trời nóng người già tăng huyết áp, trở lạnh người già cảm, ho… Người già Sài Gòn còn gánh chịu bao nhiêu là tiếng ồn, khói bụi của người trẻ, của thành phố công nghiệp trẻ.
Người già về hưu càng chóng già bởi cảm giác mình... phế thải, vô dụng, ăn bám. Và không phải người già nào cũng có lương hưu hoặc số lương còm cõi ấy khả dĩ đủ để chẳng phải trông cậy vào con cháu. Không hiếm người già cả đời hết nuôi con về già lại trông cháu, và không ít người trẻ vô tình biến người già thành một dạng ôsin không lương. Không phổ biến nhưng cũng chẳng quá hiếm hoi những người già bị con cháu lén lút hoặc công khai gửi vào các trại dưỡng lão sống những ngày cuối đời lay lắt, vật vờ…
Trẻ con có té mới biết đi, biết chạy, mới lớn lên. Người già té một cái là có chuyện, là đổ bệnh, bệnh một trận là tóc trắng mỗi ngày, là sắc diện như xe đổ dốc không phanh. Có bài hát ví von thô sơ và buồn thảm về người già vẫn được phát trên các phương tiện nghe-nhìn: Mẹ già như chuối chín cây, gió lay mẹ rụng... Người già như cỗ máy đã chạy rất lâu và không phải cỗ máy nào sau mấy mươi năm vẫn... chạy tốt. Nhu cầu thể dục thể thao của người già là cần kíp nhưng không phải con cháu nào cũng quan tâm đủ và đúng mức, không phải người già nào cũng có điều kiện đến công viên tập thể dục mỗi sáng mỗi chiều, cũng bởi số công viên ít ỏi của Sài Gòn ngày càng bị thu hẹp.
Người già cần lắm cây xanh, nhưng không phải nhà nào cũng có điều kiện có một mảnh vườn, một khoảng sân nhỏ đủ để người già được trồng tỉa, chăm sóc vài ba cây cảnh. Người trẻ quăng đâu cũng ăn được, ngủ được, sống được; người già không thế, một tiếng động cũng khiến người già thức giấc, trằn trọc, mà Sài Gòn thiếu chi tiếng động. Không ít ồn ào còn do người trẻ vô tình hoặc cố ý gây ra, trong đó hẳn nhiên có tiếng rồ ga, tiếng dằn mâm xán chén mỗi khi người trẻ bực bội, la mắng con cái…
Xem báo, nghe đài thường chỉ nghe “lo cho tương lai lớp trẻ”, chứ ít ai nói ngược lại “lo cho tương lai người già”, bởi người già thì còn “tương lai” gì nữa mà lo?! Thế nhưng có đấy, người già chính là tương lai của người trẻ...

SongPhạm
http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=149458&ChannelID=10

Cuop hoa o Ha Noi (1)



Ảnh: dantri.com.vn
Cướp hoa, điện thoại chùa
& coi báo cọp!

“Văn hóa” và “ý thức công dân” là hai yếu tố đang được các nhà chuyên môn đưa ra nhằm giải thích cho vụ Lễ hội Hoa bị phá nát bởi chính những người dân Hà Nội. Nhưng, cho dù vụ cướp hoa mang dấu hiệu vi phạm văn hóa nhiều hơn thì hành vi “giật những lồng chim trên tay ban tổ chức” vặt sạch những “cây hoa trị giá hơn 20 triệu đồng” đã đủ để cấu thành một số tội danh. Chính quyền ngay lúc ấy lẽ ra đã phải có mặt kịp thời xử lý. Hủy hoại văn hóa, hủy hoại hoa và cây cảnh của các nghệ nhân, cũng nghiêm trọng và cần được phản ứng nhanh như khi “an ninh” bị thách thức ở nơi công cộng.

Không biết những người cướp hoa, không bị chụp hình và những người bị chụp hình đưa lên mạng, lên báo, đang cảm thấy thế nào. Ai đang xấu hổ, ai bị “đứt giây thần kinh xấu hổ” như cách nói của chính dân Hà Nội. Nhân sự kiện “hoa tặc”, nhiều người liên hệ tới một hiện tượng tưởng không dính dáng gì tới hoa, đó là văn hóa gọi điện thoại chùa và coi báo cọp. Chuyện nhiều người Hà Nội chỉ sử dụng điện thoại công sở để gọi ngay cả những cuộc trò chuyện hết sức riêng tư, cho dù trong túi có cả một chiếc i-phone, là điều chẳng có gì cá biệt. Đồng nghiệp bên cạnh gọi, xếp cũng gọi. Có những vị công chức, suốt cả cuộc đời mình hầu như chỉ đọc báo ở cơ quan. Rồi đến ngày nghỉ hưu lại vừa tập dưỡng sinh vừa tranh thủ đi bộ ra phường để đọc những tờ báo được treo nơi công cộng. Khuynh hướng tranh thủ khai thác tài sản công, dường như, thể hiện rất mạnh mẽ ở những nơi mà sở hữu tư đã từng bị công hữu hóa.
Những chuyện tương tự không xảy ra ở chợ hoa Nguyễn Huệ, nhưng cũng không phải nó chỉ có những yếu tố mang tính địa phương (Thủ đô). Giỏ hoa và những tài sản công khác, như tờ báo, cuộc điện thoại, được các công chức nhỏ sử dụng “vô tư”, có thể bởi nhiều người nghĩ nó chẳng đáng chi so với những thứ lớn hơn bị “ăn chia” mà không còn được coi là xấu nữa. Khi còn nhỏ, chứng kiến cha mẹ phải tiền bạc cho thầy; khi làm bệnh nhân phải tiền bạc cho bác sỹ; tiền bạc khi vi phạm luật giao thông; tiền bạc để lên chức; tiền bạc để lên báo và để lấy danh hiệu này, danh hiệu khác… Một quan chức cao cấp không còn thấy xấu hổ khi sử dụng chiếc điện thoại trị giá hàng mấy chục tháng lương. Không còn xấu hổ khi con cái “chơi” những chiếc xe hơi trị giá phải tính bằng nhiều tỷ. Không còn xấu hổ khi nói dối, khi thấy cấp dưới rút ruột các công trình... Không xấu hổ khi chỉ vì một cánh hoa mà cả phố hoa tan nát.
Suốt đêm 2-1-2009, các nghệ nhân Hà Nội đã làm lại các tiểu cảnh, cắm lại hoa… nhưng vẻ đẹp ban đầu ở phố hoa và cả trong lòng người đi qua, thì không biết đến bao giờ mới mong khôi phục. Những cụm hoa đẹp giờ đây đã được rào dậu. Nhưng, những hàng dậu ấy không che đậy hết những dấu vết tan hoang, những dấu vết không thể khắc phục sau một vài đêm thức trắng. Năm tới, không rõ Hà Nội có định làm lễ hội hoa nữa không, nhưng chắc Hà Nội cũng nhận ra, cái đẹp không thể được trang trí cho dù có cả một phố hoa rực rỡ.

Huy Đức (blog Ôsin)