Hiển thị các bài đăng có nhãn báo chí - dư luận. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn báo chí - dư luận. Hiển thị tất cả bài đăng

29 thg 6, 2012

nhà báo


"Tính hèn nhát trong ta tự hỏi: "Có an toàn không?
Tính cơ hội cũng hỏi: "Có khôn khéo không?
Tính ảo vọng lại hỏi: "Có được tiếng tăm gì không?
Nhưng chính lương tâm ta lên tiếng: "Có là lẽ phải không?
Và có khi ta phải chọn một vị trí không an toàn, không khôn khéo, không để được tiếng tăm gì cả, nhưng ta phải chọn nó, vì lương tâm ta bảo ta rằng đó là lẽ phải!”

(Martin Luther King)

30 thg 5, 2012

Trụ sở không chỉ là trụ sở

Trụ sở không chỉ là trụ sở

TT - “Với việc đầu tư, nâng cấp nhà làm việc đảm bảo tiêu chuẩn tại văn phòng bộ, 8 tổng cục, cục chuyên ngành và 22 tổng công ty, 6 trường, viện, Bộ Giao thông vận tải ước tính cần 12.174 tỷ đồng cho đến năm 2030 (riêng từ năm 2012-2015 cần 7.950 tỷ đồng).

Trong đó, đầu tư trụ sở văn phòng bộ là 1.000 tỷ đồng và các tổng cục, cục là hơn 4.800 tỷ đồng” - thông tin ngắn gọn này đang khiến dư luận xôn xao, không chỉ bởi những con số ngàn tỷ chóng mặt, nhất là khi kinh tế đang khó khăn, mà còn là tác giả của đề án nâng cấp trụ sở kia - Bộ Giao thông vận tải - cũng đồng thời là tác giả của hàng loạt đề án thu phí, tăng phí.
Câu chuyện xây trụ sở của các cơ quan công quyền ở nước ta là một câu chuyện dài nhiều tập.
Mặc dù không muốn, nhưng khi nghe kế hoạch xây trụ sở ngàn tỷ của Bộ GTVT cũng chợt nhớ tới những trường học miền núi gió lùa bốn phía, nắng thì mặt trời xuyên tận mặt, đêm ngắm được trăng sao. Mặc dù không muốn, nhưng khi đi vào trụ sở của quận nhỏ ở thủ đô mà có tới... 70 chiếc máy lạnh chĩa 70 cục nóng phả hơi hầm hập ra xung quanh, hàng rào thép lạnh lùng kín bưng, bỗng nhớ tới một bệnh viện cũng ngay trong quận ấy 30 năm chưa được nâng cấp, mùa mưa về là nước lụt lênh láng sàn phòng bệnh, sản phụ nằm trên giường nơm nớp lo rớt con xuống nước.
Mặc dù không muốn, nhưng không thể không so sánh trụ sở của một bộ lo việc đi lại của đất nước 80 triệu dân mà chỉ riêng hạng mục xây dựng cơ bản trong vòng ba năm đã lên đến gần 10.000 tỷ đồng, với những chiếc lán tạm bợ của những công nhân làm đường, quanh năm bán mặt cho mặt đường, bán lưng cho mưa nắng, cặm cụi vác đá vá đường sau mỗi cơn mưa lũ, mỗi trận sạt lở mà đồng lương chẳng đủ nuôi bản thân chứ chưa dám mơ nuôi cả gia đình.
Không liên tưởng sao được khi không chỉ trụ sở (tương lai) của Bộ GTVT, mà suốt từ Bắc chí Nam mọc lên những cơ quan chính quyền hàng tỉnh, hàng huyện với những tòa ngang dãy dọc thênh thang, kiến trúc xấu xí, thô kệch và quan trọng nhất là nó khiến người dân cảm thấy xa lạ mỗi khi có việc phải bước chân vào.
Còn nhớ khoảng đầu những năm 2000, khi Hội Kiến trúc sư VN quyết định trao giải nhất giải thưởng kiến trúc VN hằng năm cho đồ án “Trụ sở UBND quận 10, TP.HCM” - một kiến trúc nhỏ bé, giản dị, không thiên về chiều cao, sự hoành tráng và những vật liệu đắt tiền thời thượng, kiến trúc sư Nguyễn Trực Luyện (chủ tịch Hội Kiến trúc sư VN) đã nhận xét: “Đó là một công trình dạng trụ sở chính quyền hiếm hoi khiến người dân không e dè sợ hãi mỗi khi có việc liên quan đến thủ tục hành chính... Nó tạo cho người dân cảm giác vào đó như vào nhà của mình”.
Và ông nói thêm: “Hãy nhìn xem ở các nước nhà giàu, người ta sử dụng tiền để xây “cơ quan công quyền” như thế nào. Nước Anh không chỉ nổi tiếng với nền quân chủ lâu đời và các phát minh làm thay đổi thế giới, họ còn nổi tiếng vì có một trụ sở chính quyền giản dị nhất thế giới. Ngôi nhà số 10 phố Downing, nơi ở và làm việc của các đời thủ tướng từ hơn 100 năm nay, vẫn chỉ là một ngôi nhà nhỏ ba tầng màu sẫm, với cánh cửa chỉ vừa hai người đi. Không ai dám nói vì tòa nhà làm việc của thủ tướng nhỏ mà nó không đẹp và nước Anh kém hùng mạnh”.
Vâng, giá mà khi quy hoạch và duyệt đề án các trụ sở ngàn tỷ, những người có trách nhiệm nhìn qua tòa nhà số 10 lừng danh, hay đơn giản họ ý thức được trụ sở không chỉ là trụ sở, đó là tòa nhà của dân, để làm sao dân có cảm giác vào đó như vào nhà mình.

THU HÀ


10 Downing Street - the British Prime Ministers since 1735
(Nhà số 10 phố Downing, nơi ở & làm việc của các đời thủ tướng Anh từ hơn 100 năm nay)

27 thg 1, 2009

Cảnh sát trong mắt người dân


CẢNH SÁT
trong mắt người dân

Vụ hai mô tô cảnh sát giao thông (CSGT) đuổi theo và đạp đổ xe gắn máy của hai học sinh, làm hai em bị thương, đang được tường trình theo một hướng khác. Tiếp theo vụ Thiếu uý Phương “gây náo loạn” ở sân bay Đà Nẵng, đây thực sự là một vấn đề rất đáng quan tâm. Việc có dăm bảy cán bộ, trong số hàng trăm nghìn cảnh sát, có hành vi xấu là điều khó tránh. Vấn đề là thái độ xử lý của Ngành ra sao, đối với những hành vi rất đáng bị lên án này.

Đào Xuân Anh, học sinh trực tiếp chạy xe honda, thừa nhận trên báo Người Lao Động số ra ngày 24-08 rằng, tối 21-8-2007, em đã vượt đèn đỏ, bỏ chạy và bị 4 CSGT chạy hai xe mô tô đuổi theo. Đến ngã ba Lê Duẩn, Lê Văn Hưu, lại gặp đèn đỏ, 2 chiếc mô tô CSGT đuổi kịp, một cảnh sát đạp vào xe làm hai em té xuống đường. Bé gái Lê Thị Minh Nguyên bị xe đè lên. Xuân Anh định dựng xe, đỡ bạn, thì “bị một cảnh sát túm áo lôi đi và một cảnh sát khác đánh vào gáy”. Vì em Nguyên bị bỏng bô và bị thương, nhiều người đi đường đã yêu cầu các CSGT này đưa các em đi bệnh viện, nhưng họ đã “dửng dưng bỏ đi”.
Tường trình của 4 CSGT này, nói rằng, hai học sinh Minh và Anh khi bị đuổi đã “chạy với tốc độ nhanh, không làm chủ được tay lái nên tự té”. Chiều 24-8, Lãnh đạo Phòng CSGT, trả lời phóng viên báo Pháp Luật TP HCM, cũng phủ nhận chi tiết CSGT bỏ mặc nạn nhân. Báo Tuổi Trẻ ra ngày 25-8, khẳng định rằng, họ có 7 nhân chứng quả quyết, sự việc diễn ra đúng như lời kể của hai em Minh và Anh chứ không phải như tường trình của cảnh sát. Chính vì những CSGT ấy hành xử như vậy, các nhân chứng mới phải ghi lại biển số xe. Thượng tá Phạm Văn Thịnh, Trưởng phòng CSGT, nói với phóng viên Pháp luật là ông yêu cầu, kể cả nạn nhân, tường trình bằng giấy, để làm rõ vụ việc. Tuy nhiên, ngay sau đó ông Thịnh đã nói trước rằng: “Với cương vị lãnh đạo, tôi tin anh em chiến sỹ làm đúng”.
Tuyên bố của Thượng tá Phạm Văn Thịnh nhắc chúng ta nhớ lại cách cơ quan của ông đã xử lý 4 CSGT ăn cắp hồi tháng 6-2007. Hôm đó, 4 cán bộ của phòng CSGT, khi vào một tiệm massage, nhìn thấy chìa khoá của một khách massage khác đánh rơi. Thay vì trả lại, họ đã mở tủ của người khách này, lấy bóp tiền có 4,1 triệu đồng chia nhau rồi xuống nhà xe, dùng vé gửi xe và chìa khoá của nạn nhân này, lấy đi của ông chiếc xe Honda@. Hành vi ấy, ngay sau đó đã bị phát hiện, 4 CSGT ăn cắp bị bắt.
Vụ việc có thể đã được coi là rất cá biệt nếu sau đó, “phép nước” sẽ được thi hành. Nhưng, lãnh đạo Phòng CSGT đã đến tận nơi “bảo lãnh” cho họ về, rồi cấp trên của 4 CSGT này, cũng trực tiếp, đề nghị nạn nhân “bỏ qua”, để vụ việc có thể xử lý nội bộ. Theo Bộ Luật Hình sự, trộm cắp, cứ 500 nghìn đồng trở lên là đã có thể phải lãnh án. Dân thường ăn cắp chiếc xe đạp cũng bị bắt. Thế nhưng, 4 cảnh sát ăn cắp 4,1 triệu và một chiếc Honda@ lại không bị khởi tố hình sự. Cho đến khi, kết quả một cuộc điều tra khác cho thấy, 2 trong số 4 CSGT này, hồi tháng 1-2007 đã từng ăn cắp một chiếc xe attilas của đồng đội cùng phòng, 2 người này mới bị khởi tố.
Vụ việc của hai học sinh Đào Xuân Anh và Lê Thị Minh Nguyên đang được giải thích theo hướng “tự té” chứ không phải là bị cảnh sát đạp ngã. Cho dù kết luận thế nào, thì việc dùng tới 4 CSGT chạy trên 2 xe mô tô, rượt đuổi hai học sinh vượt đèn đỏ (chứ không phải trộm cướp) tới mức để tai nạn xảy ra, cũng là sử dụng vũ lực quá mức cần thiết. Hành động coi thường tính mạng của người dân như thế, theo chúng tôi, là rất đáng lo ngại. Rất tiếc, hiện tượng ấy không phải cá biệt.
Một ngày sau khi 2 học sinh bị xô ngã ở TP HCM, tại Hà Nội, nữ sinh lớp 12 Lê Thị Hải Yến, đã bị cảnh sát dùng dùi cui đánh vào gáy, khiến Yến bị ngất phải đưa đi cấp cứu. Yến bị đánh vì vi phạm Luật Giao thông. Một vụ vi phạm Luật Giao thông khác cũng rất đáng được nhắc lại. Ngày 12-6-2007, tại ngã Tư Láng Hạ, Hà Nội, khi có một chiếc taxi vượt đèn đỏ. Một CSGT đã lao ra chặn trước mũi xe; chiếc taxi không dừng lại; vậy là, người cảnh sát đã bất chấp nguy hiểm, đu lên đầu xe… Hành động của anh CSGT này rõ ràng là dũng cảm. Nhưng, vượt đèn đỏ có phải là một loại tội phạm đòi hỏi cảnh sát phải hy sinh? Không chỉ hy sinh thân mình, hành động đó rất dễ khiến cho chiếc taxi hung dữ hơn, đe doạ đến tính mạng của nhiều người dân khác.
Vụ mô tô cảnh sát rượt đuổi một chiếc xe máy “phạm luật chở 3” trên đường Lê Hồng Phong, Đà Nẵng chiều 16-7 cũng là một bài học. Chiếc xe chở ba thanh niên hôm đó đã bị xe cảnh sát dồn cho tới mức hoảng loạn, đâm vào trụ sắt của một cổng chào trên đường. Cả ba thanh niên đều bị thương, máu me bê bết, trong đó một người bị bất tỉnh. Nghiêm trọng hơn, tại Gia Lai, sáng 28-7, khi rượt đuổi một chiếc xe khách có chở thuốc lá lậu, cảnh sát đã xịt hơi cay vào buồng lái, khiến cho chiếc xe suýt lao xuống cầu, trong khi, trên xe đang có tới 40 hành khách.
Hành vi chở thuốc lá lậu của tài xế chiếc xe khách nói trên là vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, cũng giống như chiếc xe taxi vượt đèn đỏ ở Hà Nội. CSGT hoàn toàn có thể ghi lại số xe, thông báo cho đồng đội bắt giữ ở trạm kế tiếp. Việc rượt đuổi, ngay cả rượt đuổi những tên cướp trên đường phố, giữa nơi đông người, cũng phải cân nhắc. Vì điều đó, không những làm cho những kẻ phạm tội phản ứng nguy hiểm hơn, mà còn khiến cho dân chúng hoảng loạn, có thể gây ra những tai nạn không cần thiết.
Cho đến nay, chưa thấy bất cứ một tuyên bố có thẩm quyền nào về những hành động lạm dụng vũ lực này. Cảnh sát, cho dù ở đâu, thì nhiệm vụ tối cao vẫn là bảo vệ tính mạng và tài sản cho người dân. Tuỳ theo tình huống mà cảnh sát có thể sử dụng vũ lực để trấn áp tội phạm. Tuy nhiên, ngay cả trong trường hợp kẻ phạm tội chống lại người thi hành công vụ thì vũ lực cũng chỉ được phép sử dụng ở mức độ thật sự cần thiết.
Chuyện “dân bắt cướp” cũng có những điều đáng băn khoăn. Có lẽ không ở đâu, người dân lại sẵn sàng đương đầu với tội phạm bất kể an nguy đến tính mạng của mình như ở Việt Nam. Tuy nhiên, câu chuyện những người dân vì bắt cướp mà hy sinh, mà bị thương tật cả đời, khiến cho chúng ta suy nghĩ. Cho dù tinh thần của họ là rất đáng ca ngợi. Nhưng, không ai trong số họ được trang bị vũ khí và kỹ năng để chống lại những tên tội phạm nguy hiểm. Sinh mệnh của dân quan trọng hơn cả, chính vì thế, người dân ở các quốc gia khác thường được khuyến cáo, khi bị cướp khống chế, tốt nhất là nên làm theo yêu cầu của chúng để giữ lấy tính mạng cho mình. “Còn người, còn của”.
Mặt khác, bắt cướp, bắt trộm là một hành động thuộc phạm vi quyền lực công. An ninh cũng không thể đảm bảo nếu như trật tự công cộng không được duy trì bởi những cơ quan được trao quyền một cách hợp pháp. Vụ án Khánh Trắng ở Hà Nội là một bài học. Nói như thế không có nghĩa là coi nhẹ vai trò của dân chúng. Trong phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc”, người dân TP HCM đã cung cấp cho cảnh sát tới 225.700 nguồn tin. Những nguồn tin đó đã giúp cảnh sát phá được rất nhiều vụ án. Phong trào đó rất cần được đẩy mạnh và đẩy mạnh ở những đóng góp thiết thực như vậy.
Có lẽ không cần phải nói gì thêm về vụ hai học sinh vượt đèn đỏ trên đường Lê Duẩn. Phòng CSGT sẽ phải lựa chọn: cố gắng bằng mọi cách để bảo vệ một vài cán bộ; hay, điểm lại những bài học cũ, nhìn đúng bản chất sự việc, để bảo vệ cái lớn hơn, hình ảnh người chiến sỹ công an trong mắt của mọi người.

Huy Đức

23 thg 1, 2009

Trần Dần & Tố Hữu

Trần Dần & Tố Hữu
Huy Đức

Tất nhiên, không ai tin việc tập thơ Trần Dần bị “niêm phong” chỉ vì vài cái lỗi về thủ tục. Nhưng thôi, đó cũng là một lối ra rất đỡ mất mặt. Dù sao, Thơ Trần Dần cũng đã bán rất chạy, ngay đến cậu con trai tôi, 15 tuổi, cũng tò mò.

Thơ ông đa nghĩa quá. Chỉ riêng một bài Nhất định thắng, tôi nghĩ, đã có thể vừa quy kết ông là một tên phản động cực kỳ nguy hiểm, vừa có thể ca ngợi ông như một người yêu nước nồng nàn. Không hiểu sao, cho tới nay, chưa thấy ai làm một bộ phim truyện dựa trên bài thơ ấy. Ta ở phố Sinh Từ... Một giai đoạn lịch sử buồn đau của đất nước hiện ra mồn một trong mỗi câu thơ của ông.
Khi Trần Dần viết bài thơ ấy, đất nước đang bị phân đôi, ở miền Bắc chiến tranh kết thúc. Nhưng, cuộc sống của người dân thì không có hòa bình. Trần Dần viết: Tôi đi giữa trời mưa đất Bắc/Đất hôm nay tầm tã mưa phùn/Bỗng nhói ngang lưng/máu rỏ xuống bùn/Lưng tôi có tên nào chém trộm?
Không hiểu, hình tượng “vết chém ngang lưng” ông viết ở đây là để nói về nỗi đau chia cắt tổ quốc hay chỉ đơn giản nói về cái không khí ngột ngạt ở miền Bắc, cái không khí mà đến 30 năm sau, Hữu Loan vẫn nhớ: “Thành viên nào (trong cộng đồng) cũng chứa toàn âm mưu đen tối để chủ hại người bên cạnh”.
Theo Hiệp định Geneve, người dân có một thời gian dài để chọn cho mình miền Nam hay miền Bắc. Nhưng lúc ấy, không có ai tự nguyện từ miền Nam chạy ra “Miền Bắc thiên đường của các con tôi”. Trong khi, hàng triệu người dân đã gồng gánh vào Nam để lại mồ mả ông bà trên đất Bắc. Thoạt đầu, có vẻ như Trần Dần trách móc, thậm chí ông đã buộc tội “những bạn đi Nam” là Thiếu quả tim bộ óc! Nhưng rồi quan sát kỹ hơn, ông buột hỏi: Họ vẫn ra đi/ - Nhưng sao bước rã rời?/Sao họ khóc?/ Họ có gì thất vọng?
Trong những ngày xây dựng Chủ nghĩa Xã hội ấy, tình hình thế giới được “quán triệt” thành hai “phe” Xô - Mỹ. Nhưng cái “phe” mà ông quan tâm cũng “căng thẳng” vô cùng: Gặp em trong mưa/ Em đi tìm việc/Mỗi ngày đi lại cúi đầu về/ - Anh ạ!/ Họ vẫn bảo chờ... Ông nghĩ: Trăm cái bận hàng ngày nhay nhắt/ Chúng ta vẫn làm ăn chiu chắt/ Ta biết đâu bên Mỹ miếc tít mù/ Chúng còn đương bày kế hại đời ta?
Nhưng “cơm áo” không phải là những gì ngột ngạt nhất mà những người như ông đã từng nếm trải.
Theo tác giả của Màu tím hoa sim, nhà thơ Hữu Loan: Trên thực tế, khi ấy, rất hiếm những bí thư, chủ nhiệm, thủ kho, cửa hàng trưởng tốt, phải nói hầu hết là ăn cắp, thi nhau để ăn cắp, nhưng văn học không được nói thực mà phải dựng lên toàn là những người lý tưởng. Các văn nghệ sỹ lúc ấy phải học tập những tài liệu hiện thực xã hội chủ nghĩa, từ Liên Xô đưa về, rồi tự Diên An (Trung Quốc) đưa sang. Nghĩa là văn nghệ chỉ được nói đến cái xã hội thiên đường vô cùng đẹp chưa có, chưa biết bao giờ mới có, chứ không được nói đến những cảnh trộm cướp áp bức bóc lột đang diễn ra trước mắt. Theo ông Hữu Loan: Khi một nhà báo hỏi: “Như vậy là Cách mạng đã cấm tự do ngôn luận?” Ông Trường Chinh sửng sốt: “Anh nói sao? Các anh được tha hồ tự do chửi đế quốc đó thôi.” Tố Hữu là một trong những nhà lãnh đạo hăng hái đưa “hiện thực XHCN” vào văn nghệ. Trong khi Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm… phản đối đường lối này. Những người phản đối sau đó, lần lượt dính vào một vụ án gọi là “Nhân văn Giai phẩm”.
Phong trào Giai phẩm và Nhân văn bắt đầu khi hai nhà thơ Trần Dần, Lê Đạt phê phán tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu là “dòng thơ lục bát không có gì mới, nội dung vân vê kỷ niệm không lấy gì làm sâu sắc”. Trần Dần là người phê nặng lời nhất. Tuy nhiều người tán thành với nhận xét này nhưng tập thơ vẫn giành được giải nhất đầu năm 1956. Về sau, nhóm Nhân văn còn viết nhiều bài được coi như là những “Thất trảm sớ”, đặc biệt, bài của Nguyễn Hữu Đang nói về thiết lập nhà nước Pháp quyền. Ngày nay, nếu đọc lại những bài viết của nhóm Nhân Văn, phải công nhận là nước ta đã từng có những nhà trí thức khả kính. Đất nước ra nông nỗi hiện nay là bởi lịch sử đã không chọn họ. Trần Hữu Đang bị tù 17 năm; Phùng Cung, tác giả truyện ngắn “Con ngựa già của chúa Trịnh”: 7 năm tù giam; Vũ Duy Lân (Bộ Nông lâm, bị nghi là cho Nguyễn Hữu Đang một áo len khi đang đi tù): bị giam 7 năm mới tha; Giám đốc Nhà xuất bản Minh Đức: 17 năm... Khi Hoàng Cầm cho in Nhất Định Thắng, Trần Dần bị mất chức và sau đó bị bắt giam. Nếu Trần Dần không dùng lưỡi lam rạch cổ, có lẽ thời gian “ở trong lao” của ông không chỉ là 3 tháng. Trong tình cảnh ấy, mấy câu thơ: Những ngày ấy bao nhiêu thương xót/ Tôi bước đi/ không thấy phố/ không thấy nhà/ Chỉ thấy mưa sa/ trên màu cờ đỏ… không hẳn là không mang ít nhiều ẩn dụ chính trị.

“Làm nhà văn khó lắm. Viết vừa lòng nhà nước thì dân chửi, viết vừa lòng dân thì đi tù như chơi. Thôi tôi về đi cày!” (Hữu Loan).
Cho dù phải sau khi Tố Hữu chết, các ông Hữu Loan, Trần Dần, Lê Đạt… mới được “chiêu tuyết”, vụ “Nhân Văn” không đơn giản chỉ là những vấn đề giữa các cá nhân với nhau. Một nhà nghiên cứu viết, ở thời điểm ấy, thay đổi là một quy luật. Người biết và sử dụng được quy luật thì thăng quyền tiến chức, như Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi; người biết, nhưng chỉ né tránh thì tồn tại như Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng; hay xa lánh như Nguyên Hồng. Người không biết, thì đành phải sa hầm sẩy hố… Kể ra thì, các bác ấy sống quá tử tế, làm thơ quá thơ, tính đa nghĩa trong thơ của các bác ấy thật dễ để mà suy diễn. Nếu, 50 năm trước, các bác ấy cứ theo Tố Hữu, viết huỵch toẹt: Má thét lớn tụi bay đồ chó/ Cướp nước tao, cắt cổ dân tao…; hay thật xạo: Yêu biết mấy nghe con tập nói/ Tiếng đầu lòng con gọi Stalin… rồi trơ trẽn khi nghe tin Stalin chết: Thương cha, thương mẹ, thương chồng/ Thương mình thương một, thương Ông thương mười, thì cuộc đời các bác ấy chắc chắn đã không phải thế.
Viết như thế không chỉ giúp Tố Hữu leo dần tới BCT, đã từng có lúc ông nhà thơ khẩu hiệu này lãnh đạo sự nghiệp phát triển kinh tế cho đất nước. Chúng ta không chỉ là nạn nhân của ông ở góc độ “giá lương tiền”. Suốt gần 30 năm, sách vở ngập tràn thơ Tổ Hữu. Bài thi nào cũng Tố Hữu. Giải bình thơ hay nào cũng Tố Hữu. Biết bao thế hệ đã tưởng đấy là thơ. Dân trí đã từng bị đặt trong cái “thênh thang 8 thước” đó. Nay thì Tố Hữu đã chết. Mới đây, gia đình ông đã bán nốt căn biệt thự ở phố Hồ Xuân Hương với giá tính bằng đô la cũng hơn 7 triệu.
Trong khi những người như Tố Hữu được ban những bổng lộc như vậy, những người như Trần Dần, Hữu Loan lại bị đọa đày. Bà Phạm Thị Nhu, vợ ông Hữu Loan, kể: “Chúng tôi nuôi 10 đứa con thật vô cùng vất vả. Ông nhà tôi đi thồ đá, tôi làm 2 sào ruộng, lại xay bột làm bánh bán ở chợ. Hôm nào bán ế là gánh về một gánh nặng, cả nhà ăn trừ bữa. Tôi cứ xào một xoong to toàn các thức rau, các con đi học về là nhào vào múc ăn thay cơm. Ba đứa trai lớn thì hàng ngày phải dậy từ 3 giờ sáng, kéo 3 chuyến xe cải tiến chở đá từ trên núi xuống hồ cách 2 cây số, bán cho các thuyền rồi mới ăn vội bát cơm độn để chạy bộ 7 cây số đi học." Các con của Hữu Loan gần như không có ai vào được đại học vì lý lịch của một kẻ “Nhân văn”. Một người con thi đủ điểm đi học nước ngoài cũng không được đi học. Ông đã bị biết bao người thân trách cứ. Nhưng, khi quyết định rời bỏ Hà Nội về quê, Hữu Loan đã nói với vợ: “Thôi thì bà với các con chịu khổ để cho tôi được sống lương thiện. Tôi mà chịu khó hót thì nhà lầu xe hơi sung sướng đấy, nhưng tôi không làm được”. Ông giải thích: “Làm nhà văn khó lắm. Viết vừa lòng nhà nước thì dân chửi, viết vừa lòng dân thì đi tù như chơi. Thôi tôi về đi cày!”.
Đôi khi nghĩ, những người như Hữu Loan, Trần Dần dại thật. Nhưng, Những ngày ấy bao nhiêu thương xót, làm sao có thể bắt những người như các ông có thể quay lưng lại với nhân dân!

19 thg 1, 2009

Nguyễn Ngọc Thuần viết... Chuyện tào lao! (2)

Nguyễn Ngọc Thuần
viết... chuyện tào lao!

Nhịn đói 19 ngày để đi tìm một cục xà bông. Có thể bạn chưa bao giờ dám làm chuyện “gớm” này nhưng có thể là bạn đã từng có loại suy nghĩ gớm ghiếc như vậy. Cả một đời mà. Hết nửa đời là những suy nghĩ khùng điên ba trợn rồi.
Trần truồng nữa. Nhịn đói và trần truồng đến ngày thứ 15 thì bạn nghĩ gì? Có thể bạn bắt đầu “hiểu hơn tại sao con người phải mặc quần áo” và “nhìn bộ quần áo treo trên tường như nhìn thấy cái xác của mình. Còn cơ thể trần truồng lại là một bộ quần áo mới”. Hỗn loạn vậy đó mới thực sự là người haha.
Nói chung, bao chuyện tào lao có xung quanh bạn thì cũng có gần hết trong quyển sách này, từ cái ống nhòm cho đến con chí. Mở mắt ra là đã va vào những chuyện tào lao, như khi đói thì không tìm thấy cửa hàng thức ăn. Y như rằng gặp nhà sách, gặp văn học, gặp cứt mèo, còn nếu như đi nhà sách thì lại gặp quạt bàn, nồi cơm điện, màn hình LCD…”
Và một cuộc chiến đấu kinh dị đổ máu của tên biến thái và người chồng thơm mùi xà bông nhưng không thơm mùi chồng.
Bạn sống thở và biến thái ngay trong những chuyện tào lao đó. Chúng giằng qua xé lại. Không phải chỉ nửa đời mà hết một đời.
Đọc quyển sách này để khùng và biến thái chơi. Dở quá thì mình... chửi. Không dở thì mình nghĩ về cái gì đó ít tào lao một chút. Vậy đi nha!

TRÍCH ĐĂNG CỦA BÁO SÀI GÒN TIẾP THỊ:
CÁI CHẾT CỦA CON MÈO

1. Chồng chị hay ngủ trên ghế sô pha phòng khách.
Anh nằm ở đó xem ti vi, hút thuốc, và ngủ. Anh ngáy rất to. Mọi thứ trong anh ban ngày đẹp đẽ, ban đêm xấu xí. Chị không ngủ được trong tiếng ngáy của chồng. Ban ngày anh thanh tao dịu dàng bao nhiêu, ăn khẽ, nói khẽ, cơ thể anh thơm mùi ngăn nắp thì ban đêm anh tiết lộ nhiều tật xấu bấy nhiêu. Anh gác chân lên cổ chị. Đạp vào mặt chị. Có lúc anh chửi thề. Đ.M mày.
Ở với nhau được một thời gian chị phát hiện anh không có mùi gì ngoài mùi nước hoa, mùi xà phòng cạo râu, mùi quần áo, rất nhiều mùi khác nhưng riêng anh lại không có mùi. Cơ thể anh như bông gòn, trắng tinh, sạch sẽ, nảy nở, vô trùng. Nên nằm gần anh, chị thấy như mình đang nằm gần cục xà bông, gần chai nước hoa, gần vẹc ni.
Cơ thể anh không mùi vị, lúc đẻ ra anh không có mùi sơ sinh, lớn lên không có mùi dậy thì, và lúc trở thành người chồng, anh không có mùi gia đình.
Chị ngửi cơ thể anh. Chị liếm da anh, chỗ bả vai, về phía bên chị. Da anh cũng không vị ngoài vị xà phòng, vị thuốc lăn nách, vị thuỷ tinh.
Thế là chị bất lực.
Buổi tối anh ngủ trên sô pha sau khi xem ti vi. Chị ngồi trong lòng anh, mất mùi, cho đến lúc anh không hay biết gì thì đứng dậy về giường nằm. Khoảng ba giờ đêm anh sẽ tỉnh dậy. Anh đi vào giường với chị. Lúc đó chị đã ngủ. Vì không mùi, nên chị cũng không có cảm giác anh đi vào giường nằm kế bên chị.
Một đêm đi qua, như thể chị ngủ một mình. Chồng vẫn nằm trên sô pha.
Từ ngày lấy nhau, chị vẫn ngủ một mình. Cảm giác mách bảo chị ngủ một mình. Chị cô đơn.
2. Phải chăng truyền hình đã cứu vãn các mối quan hệ
Buổi tối, nếu không xem truyền hình chồng chị không biết nói gì với chị. Anh bật tất cả các kênh lên. Lướt qua nó. Anh vừa xem tin tức vừa xem ca nhạc vừa xem hoa hậu, sau hoa hậu là đến hoa liễu với bác sĩ tư vấn, rồi đến chương trình Đến nhà của ca sĩ...
Trong lúc chồng xem ti vi, chị ráng chui vào vòng tay anh, một kiểu nối dài thói quen từ những ngày mới yêu. Chị nửa ngồi nửa nằm trên đùi anh. Dựa lưng vào bộ ngực đồ sộ bệnh hoạn của anh. Chị không xem truyền hình nhưng vẫn cứ nhìn truyền hình. Chị nhìn để đoán xem chồng mình sẽ chuẩn bị đổi sang kênh nào. Chị đoán trước thói quen của anh.
Thỉnh thoảng chị nhìn gương mặt anh. Tưởng tượng gương mặt đó ở những thời điểm trước. Xem anh thay đổi như thế nào. Cái gì thay đổi nhất. Mắt mũi miệng lỗ tai hay ngón tay. Sau cùng kết luận chỉ có cơ thể anh là thay đổi nhiều nhất. Gương mặt anh không thay đổi gì nhiều. Chỉ có tính tình anh thay đổi. Còn bản chất nóng nảy của anh vẫn như cũ. Tóm lại, anh vẫn là anh của những ngày trước. Cộng thêm một liều lượng bệnh hoạn nào đó là chân dung hiện tại của anh.
Nằm trong lòng anh vì chị biết không làm thế sẽ không còn cơ hội nằm trong lòng anh nữa. Chị muốn giữ thói quen này. Thời gian, con người già đi, những gì lãng mạn nhất sẽ bị cắt cụt, một khi bị cắt cụt rồi nó sẽ không mọc ra nữa. Cách chị nằm trên lòng anh là cách co kéo nó, không cho nó cơ hội để chấm dứt.
Có bao nhiêu người chúi mũi vào truyền hình mỗi buổi tối?
Có bao nhiêu người thay vì chúi mũi vào truyền hình thì họ chúi mũi vào nhau?
Truyền hình đã thật sự chêm xen vào cuộc sống của chị.
Chị còn nhớ có lần cái điều khiển từ xa bị con mèo gặm nát. Buổi tối, lúc chị chui vào lòng anh thì cũng là lúc anh phát hiện ra cái điều khiển từ xa không còn sử dụng được nữa. Anh đã nổi điên lên đá con mèo. Anh lấy chân đạp vào mặt nó. Phút chốc anh không còn là anh nữa. Anh trở thành con thú hung hãn mất mồi.
Cái cách anh đạp con mèo làm chị phân vân. Có thật là ti vi đã xen vào buổi tối của anh đến mức đó? Tác động đến mức đó? Bao vẻ dịu dàng của anh đâu rồi, chúng mất đi chỉ vì anh không xem được ti vi sao? Anh không thể ngồi một chỗ chuyển liên tục giữa các kênh sao? Anh không thể vừa xem hoa khôi vừa xem bóng đá vừa xem cầu truyền hình với cái điều khiển từ xa vô dụng?
Thái độ của anh trước con mèo khiến chị tưởng tượng một ngày nào đó nếu không còn ti vi, anh sẽ làm gì? Anh sẽ nổi cáu lên hay là anh sẽ chuyển sang âu yếm chị, hay là anh sẽ đối xử thô bạo với chị như với con mèo vô hình?
Trên thế gian này có bao nhiêu người ngủ gục trước cái ti vi hàng đêm? Chị nhớ có lần trên báo người ta đưa tin về một ông già ngồi chết khô trước cái ti vi. Xung quanh ông thức ăn vương vãi. Lạ một điều là không ai biết ông ta chết cả. Ti vi vẫn cứ tiếp tục mở, nó tiếp tục cái thói quen hàng ngày của chủ nhân nó. Nó liên tục liên tục đem vào nhà người ta thông tin, ngay cả khi người ta đã chết. Thế giới của thông tin, mọi thứ trên trời dưới biển thượng vàng hạ cám đều biến thành thông tin. Những con người ngồi trước ti vi ngốn nó. Như kẻ béo phì nghiện thức ăn, họ ăn không bao giờ đủ những giá vàng, hoa hậu, thời trang, tạp kỹ, chính trị, văn hoá, nghiên cứu trồng lúa, bón phân, tự sát... Thông tin đã trở thành món lẩu bệnh hoạn cho những cái đầu mệt mỏi chồng chéo muốn lãng quên những câu chuyện đời thường trong ngày.
Sau lần bị đạp vào mặt, phải mất cả tuần sau con mèo mới trở lại sinh hoạt bình thường.
Không biết có phải vì thế mà con mèo chuyển sang ngủ với chị?
3. Chị băng qua bóng tối cùng những con mèo hứng tình mùa động đực, thoắt ẩn hiện, kêu thảng thốt. Đôi mắt chúng trong suốt thuỷ tinh. Chớp tắt, trong màu tối
Hứng tình đã biến đổi những con mèo.
Chị cũng có nuôi một con mèo. Khi chị ngủ, nó trườn vào lòng chị. Cọ những cái lông vào mặt chị. Ấm rực. Chị ghê sợ cảm giác mềm nhịu đĩ thoả của nó. Nó cứ gây cảm giác trong chị như thể chị vừa làm tình với con mèo trong lúc ngủ, vô thức, chập chờn. Như thể chị là cái thứ quái vật vậy. Chị đã ngoại tình với một con mèo. Chị ghê sợ cái cảm giác đó.
Thường nửa đêm tỉnh dậy, phát hiện ra nó, dựa vào nách chị, chị đạp nó ra khỏi giường. Nhưng nhanh chóng, nó lại trườn vào lòng chị, biến thành đàn bà đĩ khi chị ngủ lại.
Nó chạm những cái lông mềm vào cơ thể chị. Nó gieo vào vô thức chị, chị đang làm tình với mèo. Trước đó chị làm tình với chồng trên sô pha. Sau đó thừa lúc chồng ngủ, chị làm tình với mèo.
Bỏ con mèo vào giỏ xách, trước đó cho nó uống một ít thuốc ngủ, chị vứt nó giữa cánh đồng ngoại ô. Trong nắng chiều, chị lặng lẽ ra về, để lại ít thức ăn, một cái áo làm tổ.
Chị đổ vẻ đĩ thoả xuống cánh đồng.
Hoá ra chị không thể đổ vẻ đĩ thoả xuống cánh đồng, trên bờ sông, trên những phố lạ. Vào nửa đêm, cái vẻ đĩ thoả đó lại trườn vào nách chị. Không hiểu sao, một con mèo bị đánh thuốc mê, bị bỏ ở một nơi xa lạ vẫn có thể tìm về nhà khi tỉnh dậy. Trong giấc ngủ, chị cảm giác thấy, vì mùi hương cơ thể của chị đã dẫn dụ con mèo về. Nó trở về được là vì lần theo mùi hương của bạn tình nó.
Chị là bạn tình của nó.
Chị nói với chồng cần phải bỏ con mèo. Chị hết yêu nó rồi.
Hai hôm sau, con mèo không về nữa. Chồng chị mang nó đi. Anh không đánh thuốc mê nó, cũng không phải đem nó đi nhiều lần như chị. Anh chỉ đem nó đi đúng có một lần.
Anh đập đầu nó, vứt xuống sông.
Chết là hết, không có cơ hội quay về đánh đĩ.
4. Một đêm nọ, chị đánh thuốc mê mình
Không ngủ được. Chị đánh thuốc mê bằng một vốc lớn. Có lẽ chị bị suy nhược thần kinh. Người ta nói, cuộc sống và suy nhược thần kinh là một.
Vì thức sáng đêm, không biết làm gì, chị được (hay bị) mục kích vẻ xấu xí của chồng trên ghế sô pha. Chị thấy hình như là, cứ quan sát kỹ, vẻ xấu xí của anh ta càng tăng lên. Mà trước đây, lúc cơn mất ngủ chưa hoành hành chị không hề hay biết.
Chị phát hiện ra tư thế nằm của chồng không đẹp. Càng về sáng càng xấu. Đến khoảng bốn giờ sáng thì xấu kinh khủng. Tiếng ngáy càng về sáng càng lớn, càng hụt hơi. Trong đêm, chồng chị đã thở quá nhiều, những hụt hơi buổi sáng là kết quả quá trình phân bố hơi thở kém. Mũi anh ta phồng lên. Đến gần sáng, lông mũi thò ra. Anh ta hắc xì văng nước mũi vào mặt chị. Cách anh nằm hớ hênh, lòi cả bộ phận sinh dục ra ngoài.
Không hiểu sao anh ta xấu xí đến vậy. Chị không tìm được lý do để bào chữa.
Chị chuốc thuốc mê cho mình. Không muốn nhìn thấy chồng, chị chỉ còn cách đó. Ngủ cũng là cách nuôi dưỡng, là cách để còn yêu, bớt ghê sợ chồng đi.
Nếu vẫn thức thì chị e rằng, không thể yêu chồng nhiều hơn. Những gì xấu xí tích tụ quanh anh. Chị sợ mình khó lòng quên, khó lòng có thể ân ái khi mà nỗi ghê sợ cứ bị chất đầy.
Con mèo quái quỷ đã uống hết thuốc mê của chị.
5. Âm nhạc là lạc thú
Những lúc không ngủ được chị nghe nhạc. Nằm trên giường, thò tay lên chồng đĩa, chọn hú hoạ một cái đĩa đơn. Chị thích cảm giác ngón tay tiếp xúc cái nút trên máy cassette, lướt từng nút một và đoán xem nó là nút gì.
Những cái nút giống như đàn ông vậy, bằng rất nhiều cảm giác, chị chọn lấy một. Chị nhấn sâu cuộc đời chị vào người đàn ông ấy với ít nhiều cảm giác hơn là thị giác, chị – đàn bà – không có nhiều lắm khả năng nhìn. Chức năng nhìn của đàn bà trong chị luôn giới hạn trong cảm xúc. Chị tin người đàn bà chọn lựa đời mình bằng cảm xúc nhưng lại cho rằng thấy bằng giác quan. Họ chối bỏ việc họ chỉ cảm mà không hề thấy.
Chị có nhiều đĩa nhạc, có đĩa xưa đến mức không còn nghe được nữa. Tấm bìa đĩa phô ra những con chữ tàn phai mô tả nội dung, thay cho âm thanh. Những cái đĩa đó khiến chị nhớ nhiều, trỗi lên trong chị giai điệu nhiều hơn bất kỳ đĩa nhạc được bỏ vào một chiếc máy cassette nào. Chị nghe bằng tiếng vọng của nó, trong tâm hồn mình.
Chồng đĩa ngày chị lấy chồng, bây giờ nghe không được cái nào nữa, tắt tiếng, ngưng tụ, giống như cuộc hôn nhân vậy, những âm thanh vang vọng chỉ còn trong nỗi nhớ xa xưa, không còn thích hợp với bất kỳ cái máy nào của hiện tại, không gian nào. Chị không có khả năng làm cho nó chạy, chị không thể trả nó về như cũ, ban đầu.
Lướt nhẹ trên những cái nút, chị tìm nút play. Cuộc đời chị cũng giống như những cái nút trên máy cassette, chơi, dừng, tạm dừng, xoá, ghi. Cuộc đời chị cũng giống như những cuốn băng cassette bị vứt dưới góc bàn, chỗ thì ca vang lên, chỗ thì im bặt, chỗ nhão nhớt, co dãn, rách, chắp nối.
Trong những đêm mất ngủ chị thường với trúng cái đĩa câm. Có lẽ chị cần phải bỏ chút thời gian sắp xếp lại chồng đĩa, lọc ra những cái không thể hát được, cất riêng, chọn lấy những cái hát được, những cái chị thích.
Sau ba lần bật tắt, âm nhạc cũng đã vang lên.
Mùa tàn phai qua giọng hát của K.
“Chẳng có cái gì, đúng vậy, chẳng có cái gì nhiều hơn tên người...”
Chị tên gì thì rồi cũng sẽ đến mùa tàn phai...