Hiển thị các bài đăng có nhãn báo chí - du luan. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn báo chí - du luan. Hiển thị tất cả bài đăng

19 thg 1, 2009

Nguyen Ngoc Thuan & "Chuyen tao lao"

Cần niềm tin
mang tính cá nhân
đủ lớn

Một sự khủng hoảng khác, không phải tài chính, mà khủng hoảng tâm hồn được Nguyễn Ngọc Thuần đề cập trong cuốn sách có cái tít ngụy trang “Chuyện tào lao” được NXB Trẻ in và phát hành đầu năm 2009.
Cùng trò chuyện sâu hơn với tác giả về các yếu tố biến đổi gene, biến đổi môi trường… đang làm biến đổi chính con người thuở “một thiên nằm mộng” giữa cánh đồng làng!


* Đầu năm mới, người ta lo lắng bao chuyện hệ trọng về khủng hoảng kinh tế, tài chính toàn cầu, còn anh thì lại muốn bàn chuyện tào lao trong cuốn sách đang in. Những câu chuyện tào lao của anh là gì vậy, nó góp nhặt trong bao lâu rồi?
- Khi tâm hồn hoảng loạn thì tài chính không phải là lý do tốt để giúp bạn vượt qua. Cái bạn cần là một niềm tin mang tính cá nhân đủ lớn. Đây là một câu chuyện viết về những khủng hoảng bên trong con người. Tên “Chuyện tào lao” cũng không hẳn là một truyện.
Cụ thể, lần xuất bản này, truyện có tên là: “Chuyện tào lao [về kẻ quấy rối và chồng cô ta]. Cuốn thứ hai sẽ là: “Chuyện tào lao [Về bạo lực là câu chuyện dài]. Cuốn thứ ba sẽ là chuyện tào lao [Về một cái gì đó]… Vân vân. Cứ như thế, viết cho đến… già.
* Khi đọc truyện “Con chó biến thành con bò”, tôi thấy vấn đề đặt ra còn nghiệt ngã hơn nhiều chuyện khủng hoảng tài chính: chất melamine cùng bao chất phụ gia đang xen vào đời sống của chúng ta, làm chúng ta biến đổi từng ngày mà không nhận ra. Sao anh lại muốn giấu vấn đề này dưới cái vỏ “tào lao” tầm phào, nói vui thì anh muốn đề cập vấn đề theo kiểu… vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ cho nhẹ đi hay sao?
- Sự biến đổi của “Con chó biến thành con bò” chỉ là những biến đổi nhìn thấy, nó thật sự tầm phào, nhưng cái đáng sợ hơn là sự biến đổi vô hình bên dưới nó. Nó xâm nhập từ từ và biến đổi chậm rãi. Cho nên tôi mới viết rằng, làm sao một cái đuôi lại tượng trưng cho nỗi cô đơn của con người được. Bản chất sâu xa của con người đến từ cái khác, bên ngoài dáng vẻ của họ.
* Chính anh, người quan sát và người viết, hoặc kỳ vọng hơn là người dự báo cũng đang sợ hãi trước những điều mình phải chứng kiến khi mở cửa bước ra đường hàng ngày?
- Chúng ta đối diện với nhiều thứ từ bên ngoài trong quá trình sinh sống. Nhưng tôi vẫn luôn nghĩ rằng những vấn đề bên trong luôn nhiều hơn bên ngoài.
Ví dụ trong đời tôi, hầu như tôi rất ít gặp ai, nhưng điều đó không có nghĩa là cuộc sống của tôi không có gì để giải quyết. Có quá nhiều điều phải thu xếp cho cá nhân, thậm chí phải tốn rất nhiều thời gian để ổn thỏa nó. Nói một cách ví von thì bên trong mỗi con người đều có ba thứ cùng tồn tại: một cơn bão, một vực thẳm và một đỉnh núi.
* “Bỗng một ngày thấy bà giám đốc biến thành đàn ông, một số nhân viên đàn ông trong cơ quan bỗng dưng biến thành đàn bà, chắc tại thức ăn!” - Anh đã viết như thế. Nhưng đau đớn hơn, anh lại cho một nhân vật phải chết, đó là cái chết của bà lão hàng xóm ngày ngày vẫn cho con chó của anh ăn món “chicken soup”, vậy mà con chó vẫn bị biến đổi thành con bò, vì thế bà lão sốc quá mà chết. Anh có ẩn ý gì từ việc cho ăn “chicken soup” rồi mà vẫn bị biến đổi?
- Tâm hồn con người được làm đầy bằng hai cách, bên ngoài rót vào và bản thân bên trong dâng lên. Một người quân bình là giữ được sự cân bằng giữa hai mối quan hệ này. Nhưng cũng có những tâm hồn bên trong không có thứ gì dâng lên, bên ngoài lại không một món “chicken soup” nào có thể rót vào.
Và đó là lúc bạn đối diện với sự biến đổi theo một chiều hướng nào đó, hoặc tốt đẹp hoặc xấu xa, hoặc tích cực hoặc tiêu cực. Văn chương không thật sự “trầm trọng” như chúng ta vẫn nghĩ
* Một truyện khác của anh, “Cái chết của con mèo”, là quá trình người vợ chứng kiến chồng mình, người đang sống khỏe mạnh nhưng cơ thể dần dần mất mùi hay nói đúng hơn là thịt da anh ta không có mùi, trắng tinh, sạch sẽ và vô trùng. Chính vì người viết còn giữ cho mình “tâm hồn quê mùa” nên mới tốt về khứu giác như vậy?
- Đó chính là trích đoạn trong Chuyện tào lao [Về kẻ quấy rối và chồng cô ta] phát hành đầu năm 2009. Sự thật không hẳn là vì khứu giác tốt, mà là vì sự nhạt nhẽo bên trong con người nhân vật.
Anh ta không còn là con người đúng nghĩa, mà đang đánh mất dần, đang biến đổi dần, ngay cả những thứ đơn giản nhất như mùi mồ hôi cũng không còn thuộc về anh ta nữa. Thay vào đó chỉ còn lại mùi thủy tinh, mùi bông băng… Những cái mùi của vô tri khác.
* Anh nói mình không viết cho trẻ con nữa vì tính tình thất thường, nhưng có phải vì tâm hồn quê mùa của cái thuở “một thiên nằm mộng” trên cánh đồng làng nó cũng đã phai nhạt ít nhiều nên bây giờ mới có những chuyện tào lao, những truyện ngắn mang tính biến đổi gen và biến đổi khí hậu nặng như vậy?
- Quá trình sống là quá trình phủ nhận, tùy theo mỗi người mà liều lượng ít hay nhiều, nhẹ nhàng hay quyết liệt, nhưng nó là cái bắt buộc phải diễn ra.
Tôi đã sống qua những cái đó, cần phải sống tiếp những cái khác, không tốt hơn, nhưng sẽ tươi mới hơn. Nhãn quan văn chương của tôi vì thế mà thay đổi dần. Tâm hồn của tôi cũng đã đi đến một nơi khác. Không còn ở chỗ cũ và những cảm xúc cũ.
"Văn chương là tâm tính, tâm hồn, tâm trạng… Nếu bạn thích xuống dòng thì bạn nên xuống dòng, thích viết hoa thì cứ viết hoa. Bởi bạn là người ra luật chơi mà… Nhưng tôi nghĩ, nếu chấm câu mà truyện vẫn hay thì không có lý do gì hành hạ người đọc chi cho khổ" - Nhà văn Nguyễn Ngọc Thuần.
* Với anh, nhiều cuốn sách nhảm nhí cũng có tính toàn cầu không thua gì những cuốn sách chân chính, “Chuyện tào lao” mang lại điều gì cho bạn đọc, theo chủ quan của anh?
- Đây là câu chuyện về một anh chàng nhịn đói mười chín ngày khi đi tìm cục xà bông (xà phòng). Tôi nghĩ người đọc sẽ nhận ra cá nhân là những biến đổi mang tính tầm phào nhất.
Và riêng cuốn sách cũng đã mang lại cho tôi những nhận thức khác, những trải nghiệm khác về văn chương, văn chương không thật sự “trầm trọng” như chúng ta vẫn nghĩ.
* Khi gặp Lê Thiếu Nhơn, tôi hỏi: “Ngoài đời thì Nguyễn Ngọc Thuần có gì đặc biệt không, theo cậu?”. Anh ấy nói: “Hắn ngày xưa nghèo lắm, nay vẫn nghèo”. Lạ nhỉ, bây giờ mà anh vẫn nghèo cho được?
- Rất chính xác và cũng rất tinh tế nữa. Cũng xin cộng thêm, còn là một con người nhạt nhẽo trong cuộc sống. Nó cũng là căn bệnh của rất nhiều cá nhân khác, càng sống càng nghèo nàn đi, càng nhạt nhẽo ra. Xin hãy tin tôi chuyện này.
Nếu là một đứa trẻ thì cũng tốt
* Truyện ngắn của anh bây giờ có hơi hướng báo chí nhiều, ví dụ anh viết “phải chăng truyền hình đã cứu vãn các mối quan hệ”, “phụ nữ tắc sữa để bảo toàn vẻ đẹp bầu sữa. Trẻ em uống sữa gì mà chả lớn lên”.… Nhận xét thế có hồ đồ không?
- Nó không phải là một nhận xét. Nó chỉ là một cách nói lòng vòng, nói bóng nói gió, nói chỗ này nhưng chỉ để mong nó trúng chỗ… nọ.
* Anh không đặt bất cứ lý do gì để phải viết văn và cũng sợ cách viết chuyên nghiệp. Vậy theo anh sáng tác có nhất thiết phải xác định rõ thể loại không và có nhất thiết phải xuống dòng, viết hoa đầu dòng hoặc chấm câu không?
- Văn chương là tâm tính, tâm hồn, tâm trạng… Chẳng thể nào chuyên nghiệp được mấy cái đó. Nếu bạn thích xuống dòng thì bạn nên xuống dòng, thích viết hoa thì cứ viết hoa. Bởi bạn là người ra luật chơi mà. Bạn đừng vì một cái luật nào đó không cho xuống dòng, không cho viết hoa thế là bạn phải đu theo mặc dù trong tâm hồn bạn không hề muốn thế.
Nhưng tôi nghĩ, nếu chấm câu mà truyện vẫn hay thì không có lý do gì hành hạ người đọc chi cho khổ. Tốn nhiều công sức cho một ít ý nghĩa là không chính đáng.
Khi viết tôi không bao giờ đặt ra thể loại. Cứ thấy ngắn ngắn thì cho là truyện ngắn, dài dài thì kêu là truyện dài, vậy thôi. Cốt lõi vẫn là viết cái gì? Bằng cách nào? Nếu viết bằng “cái đuôi” sách mới hay thì không có lý do gì tôi lại viết bằng tay. Tay chỉ có vứt đi.
* Cuối cùng, cái đích của sự viết trong anh là gì: để chia sẻ, giải tỏa hay là tìm kiếm các phương thuốc chữa trị vết thương và chống lại sự biến đổi?
- Tôi không bao giờ biết mình viết vì cái gì. Nhưng cũng có thể vì tất cả những cái trên và cộng thêm nhiều thứ khác nữa. Tôi muốn kể một câu chuyện theo một phương cách nào đó khác. Và thán phục trước sự biến đổi không lường của sự việc.
Vậy hỏi vui anh thế này: Anh có đang bị biến đổi không, cả tinh thần lẫn thể xác?
- Có cả hai. Thể xác và tinh thần luôn chịu sự biến đổi theo thời gian. Nếu không bạn chỉ là một đứa trẻ. Nhưng mà nếu là một đứa trẻ thì cũng tốt. Cũng chẳng nên lấy đó làm đau đớn.

(Nguồn: Tiền Phong)

Chinh quyen - nhin tu Phu My Hung


Chính quyền -
nhìn từ Phú Mỹ Hưng

Mãi tới đầu năm 2008, Phú Mỹ Hưng mới có tổ dân phố và bắt đầu hình thành các chi bộ Đảng. Trong suốt gần một thập kỷ qua, hai phường Tân Phong và Tân Phú, quận 7, chỉ phải cử 2 cảnh sát khu vực xuống trực ở phòng hậu mãi của công ty Phú Mỹ Hưng để nhận đăng ký tạm vắng, tạm trú và theo dõi tình hình. Nhà nước có mặt rất ít, cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, nhưng khu đô thị này vẫn rất phát triển, cả về an ninh chính trị và trật tự cộng đồng. Phú Mỹ Hưng là một ví dụ rất sinh động để nghiên cứu về mô hình và mức độ can thiệp của chính quyền đô thị.

Hai cảnh sát khu vực có mặt ở Phú Mỹ Hưng thực ra chỉ mới đáp ứng nhu cầu quản lý nhân khẩu từ chính quyền, còn các vụ “an ninh trật tự” khi xảy ra thường vẫn do bảo vệ công ty “phá án”. Lập các “tổ dân phố” cũng có ý nghĩa là tạo ra sự tương thích với các khu đô thị khác nhưng cũng chủ yếu phục vụ cho nhu cầu “quản lý”. Các “Ban tự quản” do người dân Phú Mỹ Hưng lập ra đang vận hành tốt, và nhờ yếu tố “do dân” mà các Ban này đang có một vai trò tích cực trong việc củng cố cộng đồng. Có lẽ chỉ một thời gian nữa, các cư dân ở đây sẽ có đủ kinh nghiệp để nuối tiếc về thời kỳ không có “chính- quyền- tổ- dân- dân- phố”.
Cho dù bảo vệ công ty Phú Mỹ Hưng đang làm tốt công tác duy trì an ninh trật tự trong khu vực, về nguyên tắc, quyền lực công không thể được thực hiện bởi lực lượng này. Quy mô phát triển của Phú Mỹ Hưng xứng đáng có, ít nhất, một đồn cảnh sát, một trạm cứu hỏa, một trạm cứu thương hoạt động 24 giờ/ngày. Tuy trực thuộc cấp phường, nhưng Phú Mỹ Hưng đã vận hành như một thành phố, người dân ở đây lẽ ra có thể được cung ứng các dịch vụ hành chánh tại chỗ thay vì phải ra “ngoại ô” để tìm đến các phường.
Có lẽ, rất ít người dân Phú Mỹ Hưng biết là cả chục năm nay họ sống mà không có tổ dân phố. Có lẽ vì họ không thấy thiếu. Gần 6000 dân của Phú Mỹ Hưng có nhiều mối quan tâm chung lẽ ra phải ở cùng trong một đơn vị hành chánh, nhưng vì căn cứ vào “bản đồ cũ”, họ bị chia ra, trực thuộc hai địa phương có rất ít sự tương đồng về điều kiện kinh tế và xã hội với mình. Có lẽ vì nhờ phường ít can thiệp vào sự phát triển nên người dân ở đây đã không nhận ra sự bất hợp lý đó và yếu tố “ít chính quyền” có lẽ cũng đã tác động không ít lên quá trình phát triển ở khu đô thị này.
Câu chuyện Phú Mỹ Hưng nhắc ta nhớ đến thủ đô Canberra của Úc, Canberra đã từng có những thời kỳ tồn tại không cần chính quyền mà vẫn được coi là một trong những thành phố tốt. Chính quyền địa phương ở các nước theo mô hình Anh thường chỉ có một hội đồng do dân bầu, có khi chỉ 5-7 người. Hội đồng này sẽ cử hoặc thuê một người làm thị trưởng. Hầu hết các dịch vụ công cộng đều giao thầu cho tư nhân đảm trách.
Cho dù là nông thôn hay thành thị thì bộ máy chính quyền đều phải dựa trên nguyên tắc “do dân”. Quy mô lớn nhỏ tùy thuộc vào mức độ đòi hỏi phải đáp ứng dịch vụ công cho dân. Nhưng ở các đô thị, mối quan tâm và khả năng tiếp cận của dân chúng tới các cơ sở cung cấp dịch vụ công khác với nông thôn. Do đó “chia nhỏ” các cấp chính quyền như ở nông thôn không phải lúc nào cũng đúng.
Căn cứ vào các tiêu chí phục vụ, ví dụ: sau một cuộc điện thoại của dân, khoảng bao nhiêu phút sau thì cảnh sát 113 và lính cứu hỏa có thể tới để mà bố trí các đồn cảnh sát và trạm cứu hỏa thích hợp. Tương tự, nếu chúng ta vẫn tiếp tục mô hình nhà nước “song trùng” như thế này, người dân ở Tân Bình vẫn có thể nhận được các giấy tờ do UBND Thành phố cấp tại một văn phòng hành chánh của thành phố đặt tại ngã tư Bảy Hiền thay vì phải lên tận 86 Lê Thánh Tôn, quận 1. Các đồn cảnh sát sẽ phản ứng trước tất cả các vấn đề về an ninh trật tự trên địa bàn và lực lượng này hoàn toàn có thể thay thế lực lượng công an phường, quận. Trên cơ sở đó, mà có những chính quyền thành phố chỉ cần 2, thậm chí chỉ còn 1 cấp.
Một chính quyền mạnh không căn cứ vào sự hùng hậu của biên chế và quy mô các ban bệ. Chính quyền sẽ hữu hiệu hơn khi được lập ra để chỉ ra tay những gì mà dân chúng thực sự cần.

Huy Đức (blog Ôsin)

13 thg 1, 2009

Van mang hay... vang mang?!

Văn mạng hay...
văng mạng?!
SGGP:: Cập nhật ngày 01/05/2007 lúc 15:25'(GMT+7)


Sự phát triển vượt bậc của cuộc cách mạng viễn thông đã tác động đến mọi ngõ ngách đời sống con người. Văn chương cũng không ngoại lệ. Gần đây, thông qua các website và blog, văn chương mạng ngày càng trở nên phổ biến. Tại bàn tròn văn chương kỳ VII (*), đề tài thú vị này đã gây ra một cuộc tranh luận sôi nổi mà ngay các thành viên ban tổ chức cũng khó ngờ.

Văn chương trên mạng

Nhà thơ Vũ Trọng Quang mở đầu phần đề dẫn với câu hỏi: “Yếu tính của truyền thông là tốc độ, còn văn chương VN nói chung là chậm chạp, vậy nó sẽ tự thân vận động và chuyển mình ra sao cho phù hợp, theo kịp sự biến thiên từng thời khắc của công nghệ thông tin?”.
Tiếp theo là yêu cầu được định nghĩa của rất nhiều khán giả: “Văn chương mạng là văn chương được sáng tác ngay trên mạng hay văn chương trên giấy rồi đem post lên mạng?”. Nhiều câu trả lời của những người phụ trách chương trình được đưa ra nhưng hầu như không thỏa mãn, bên cạnh đó là nhiều nhận định lạc quan lẫn bi quan: “Các vị cứ nói cho sang chứ VN làm gì có văn chương mạng?” (Lê Thiếu Nhơn - nhà thơ); “Website của chúng tôi đã và đang đăng tải rất nhiều tác phẩm văn chương được viết theo cả 2 cách: trên mạng và... dưới mạng” (ông Nguyễn Hòa, phụ trách trang web vannghesongcuulong.org); “Không thể chối cãi, số lượng người sáng tác và đọc trên mạng rất lớn, vượt trội so với văn chương giấy” (Inrasara - nhà thơ); “Tại Nhật Bản, Trung Quốc… và gần đây là VN, không ít người đã dò thị hiếu của giới trẻ thông qua văn chương mạng, từ đó họ không chỉ làm sách mà còn làm phim và rất nhiều lĩnh vực khác” (Lam Điền - phóng viên)...
Văn chương mạng sẽ thay thế văn chương giấy?
Nhiều phản ứng khác cho rằng văn chương mạng được viết, được biên tập một cách dễ dãi nên đầy rác, và sau cùng là ý kiến dung hòa: văn chương mạng và văn chương giấy sẽ “song song tồn tại, bổ khuyết cho nhau” (Trần Hữu Dũng - nhà thơ).
Nhà thơ Inrasara, người chủ trì bàn tròn đã nêu ra một số ưu thế của văn chương mạng như “Website chứa đủ: tiểu sử, ảnh, địa chỉ, các tác phẩm, dư luận về chúng… Nghĩa là đủ chuyện trên đời về tác giả đó. Ta cứ vào Google hay Yahoo,… mà gõ từ khóa”.
Trong khi đó, nhà thơ Nguyễn Trung Bình lo lắng: “Chính việc chọn đăng một cách dễ dãi (do không hạn chế đất, do rất ít trang web nào trả nhuận bút - PV) và thường không biên tập nên các website văn chương có phần… hổ lốn, không ít tác phẩm phi văn chương, nhiều người viết tự ảo tưởng về mình”. Và Inrasara giải tỏa: “Báo mạng còn non trẻ nên cần tranh thủ thị phần sáng tác và tác giả mới. Chính tác giả phải tự duyệt chất lượng sáng tác của mình trước khi gửi. Vấn đề còn lại là ý thức và trình độ thẩm mỹ của người đọc, để phân biệt đâu là văn chương đích thực, đâu là trò chữ nghĩa nhếch nhác, bệnh hoạn...”

Văn mạng hay… văng mạng?
Từ Bellingham, Mỹ, nhà văn Lý Lan cũng post bài tham gia bằng những phản biện thú vị: Nghiệm từ bản thân mình thì quá trình sáng tác một bài thơ hay một truyện ngắn trên máy tính và trên giấy không khác lắm, còn chất lượng thành phẩm thì có cái hay hơn, có cái dở hơn, có lẽ là do sự trồi sụt của cảm hứng chứ máy tính hay cây viết không đóng vai trò quan trọng (…).
Về tính tương tác cao của văn chương mạng như nhà thơ Hồ Thi Ca đã đề cập, “hiển thị dưới hình thức các trang viết cộng đồng, tiểu thuyết tập thể… Ở đó, các tác giả cùng tham gia viết tác phẩm mà không hề quen biết nhau!” – Lý Lan phản biện: “Để làm gì chứ? Có tác phẩm nào sáng tác kiểu này được đánh giá cao chưa? (…). Yếu tố tối cần thiết cho sáng tạo văn học là sự độc lập suy nghĩ. Tương tác cần cho giao tế xã hội và chuyện khác chứ không phải trong sáng tạo văn chương”. Về “Điểm khác biệt cơ bản nhất của văn học mạng là tính phổ biến rộng rãi” (Hồ Thi Ca) thì theo Lý Lan: “Thực tế không phải vậy. Mình đố ai thử đưa ra được một ví dụ “văn học mạng” nào có số phát hành hay “lượng độc giả truy cập” lên đến hàng trăm triệu như sách in trên giấy, như Harry Potter chẳng hạn. Stephen King cũng là tác giả bán được hàng trăm triệu cuốn sách in trên giấy, khi đang ở đỉnh cao, ông đã thử bán tác phẩm trên mạng nhưng chỉ thử một phen “cho biết” rồi ông lại đưa tác phẩm cho NXB in ra và họ lại bán sách ông chạy như tôm tươi”.
Về ý kiến cho rằng “Một bài thơ, truyện ngắn được post lên website cá nhân, lập tức cả thế giới đều đọc được” (Hồ Thi Ca), nhà văn Lý Lan đã “cãi”: “Mình có thể chỉ ra vô số bài thơ, truyện ngắn bằng thứ tiếng phổ biến nhất hành tinh là tiếng Anh, khi post lên mạng, dẫu đếm tới đếm lui thì cũng chỉ có tác giả tự đọc mà thôi”.
Và chị kết luận: “Nói vậy, nhưng trong hoàn cảnh xứ mình hiện nay, Internet là một phương tiện cần tận dụng để mở ra những lối thoát cần thiết, miễn là đừng ảo tưởng về những huyền thoại của thế giới ảo. Mình không phân biệt văn chương mạng hay không mạng nhưng mình ủng hộ cái vụ bàn tròn về cái gọi là văn chương mạng. Dù sao thì mình viết cái này ở cách xa Sài Gòn vạn dặm, nếu không có “mạng” thì mình đâu có nói chen vô được cái bàn tròn, bàn méo văn chương này!”.


SongPhạm

(*) Do Hội Nhà văn VN, Hội Nhà văn TPHCM & Ban Văn học trẻ thực hiện, diễn ra tại trụ sở Hội VHNT TPHCM, 81 Trần Quốc Thảo, Q3, TPHCM ngày 21-4-2007

8 thg 1, 2009

Vu LeHoang & NguyenCongKhe (2)

Bình luận trên blog
về vụ thay đổi hai TBT

Việc thay đổi hai tổng biên tập của hai báo lớn, Thanh Niên và Tuổi Trẻ, là diễn biến truyền thông gây chú ý.
Ông Nguyễn Công Khế sẽ giữ chức Chủ tịch HĐQT Công ty truyền thông Thanh Niên và Giám đốc Hãng phim.

Trong ngày đầu năm 2009, báo Tuổi Trẻ chính thức đưa tin ông Lê Hoàng sẽ thôi chức tổng biên tập, và nhiệm vụ mới của ông sẽ do Ban thường vụ Thành đoàn TP. HCM phân công.
Theo bản tin, ông Lê Hoàng "không cảm thấy điều gì khó khăn khi nhận quyết định vì cũng hiểu sự việc, nguyên nhân của nó".
Công việc cuối cùng của ông trong cương vị lãnh đạo tờ báo là tham dự lễ khánh thành nhà in Tuổi Trẻ hôm 30.12.
Ông Bùi Thanh, người mất chức Phó Tổng Biên tập Tuổi Trẻ và bị thu thẻ nhà báo hè năm nay, viết trên blog rằng tại buổi lễ, "ngọai trừ anh em Tuổi Trẻ, hầu như các vị khách mời đều không biết được rằng, đó là họat động cuối cùng của anh trên cương vị tổng biên tập".
Theo Bùi Thanh, có một sự trùng hợp: "Thật trớ trêu, 5 năm trước, anh Lê Văn Nuôi là người bấm nút khởi công trụ sở báo Tuổi Trẻ mới ở số 60A Hòang Văn Thụ. Sau ngày bấm nút đó, anh Nuôi buộc phải rời khỏi phòng tổng biên tập, rời khỏi Tuổi Trẻ."
"Bây giờ, anh Lê Hòang cũng vậy, bấm nút khánh thành một công trình lớn của Tuổi Trẻ xong là ra đi. Buộc phải ra đi."
Ra đi cùng ngày
Trang web báo Thanh Niên ghi rõ quyết định thay đổi tổng biên tập hai tờ báo được trao cùng ngày 31.12.
Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn Võ Văn Thưởng đã đến báo Thanh Niên trao công văn của Ban Bí thư Trung ương Đoàn đối với ông Nguyễn Công Khế.
Giờ đây, ông Khế, được nhiều người xem là hiện thân của báo Thanh Niên hơn 20 năm qua, sẽ giữ chức Chủ tịch HĐQT Công ty truyền thông Thanh Niên và Giám đốc Hãng phim Thanh Niên.
Ông Đặng Thanh Tịnh tạm thời phụ trách báo nhưng chỉ ở cương vị Phó tổng biên tập - nghĩa là Thanh Niên hiện không có ai giữ chức tổng biên tập.
Việc cuối của ông Lê Hoàng là khánh thành Nhà in Tuổi Trẻ
Báo Thanh Niên cũng cho biết trong cùng ngày 31.12, Thành Đoàn TP. HCM trao quyết định của Ban Thường vụ Thành Đoàn về việc không bổ nhiệm lại ông Lê Hoàng giữ chức Tổng biên tập Báo Tuổi Trẻ từ 1.1.2009.
Cũng trong tình thế không có tổng biên tập, ông Vũ Văn Bình, Phó tổng biên tập và là Bí thư Đảng ủy của báo, sẽ điều hành tòa soạn.
Ông Hoàng Hải Vân, mất chức tổng thư ký tòa soạn Thanh Niên và bị tước thẻ nhà báo cùng đợt ông Bùi Thanh, tâm sự trên blog cá nhân rằng trong buổi họp, báo Thanh Niên "đẫm nước mắt".
Ông viết: "Cả Hội trường Báo Thanh Niên chiều nay đầy nước mắt, ở đây chưa bao giờ có nhiều nước mắt như vậy. Nước mắt đã có từ nhiều ngày nay, nhưng hôm nay là nhiều nhất, trong đó có rất nhiều nước mắt của những người chưa bao giờ khóc người đang sống."
"Giao thừa dương lịch tối nay, đối với những người làm báo Thanh Niên, là một giao thừa buồn thảm."
Tờ báo này sắp kỷ niệm ngày thành lập (3.1.1986), nhưng theo ông Vân, "không biết Thanh Niên sẽ đăng những gì để kỷ niệm sinh nhật 23 năm của mình".
Tâm sự nhà báo
Nhà báo kỳ cựu Huy Đức, ngày 30.12, là người đầu tiên viết công khai trên blog về diễn biến thay đổi của làng báo.
Không bình luận về ông Nguyễn Công Khế, ông Huy Đức tỏ ra có thiện cảm với ông Lê Hoàng.
"Tuy không xuất thân từ một nhà báo chuyên nghiệp, Lê Hoàng ý thức rất rõ vai trò công luận của một tờ như Tuổi Trẻ và sứ mạng thông tin không thể tránh được của một người làm báo. Ông không thể không đăng những bài viết trong vụ PMU 18."
Blog Bùi Thanh là một trong vài blog công khai bình luận về sự thay đổi
"Và đặc biệt gần đây, ông được đánh giá cao khi, đúng ngày Thủ tướng ra trước Quốc hội, cho đăng tin phiên tòa ở Nhật xử vụ PCI có nêu đích danh Huỳnh Ngọc Sỹ (tờ Thanh Niên hôm ấy không đăng). Cho dù ông biết đăng tin này là 'đụng'".
"Đặc biệt, giới quan sát, rất cảm kích khi thấy Lê Hoàng đã giữ được tư cách một nhà báo khi trong suốt thời gian chiếc ghế của ông bị lung lay, ông đã không hề 'chạy chọt'".
Trong khi đó, nhà thơ - nhà báo Đỗ Trung Quân lại cảm ơn sự "hào hiệp" của ông Nguyễn Công Khế dành cho nhiều người gặp khó trong môi trường xã hội - chính trị nhiều khi bất trắc.
"Nhiều năm qua, khi đã ở vị trí vững vàng, anh đã cứu giúp cưu mang khá nhiều người, những người của SG sau 1975, khi ấy vì “chủ nghĩa lý lịch” đang phải lang thang nơi chợ trời thuốc Tây, đang mỗi ngày đạp xe đi bỏ từng ký cà phê trộn bắp rang và đủ thứ hoàn cảnh,công việc lam lũ, vất vả khác."
"Những người mà giờ đây từ sự cất nhắc của anh, họ đã có chỗ đứng, thậm chí có chức vụ trong tờ báo Thanh Niên. Tính cách hào hiệp ấy trong anh là có thật. Anh có mặt trong đám tang giáo sư Nguyễn Ngọc Lan và hôm sau, khi không một tờ báo nào trong cả nước đưa tin về sự qua đời của giáo sư Lan, chính Thanh Niên là tờ báo duy nhất đăng những bài xúc động về sự nghiệp của một con người yêu nước, rồi trở thành tù nhân của cả 2 chế độ."
Ông Quân nhắc lại chi tiết rằng ông Khế "không thích blog", nhưng điều trớ trêu là bây giờ, giới làm báo Việt Nam, nếu muốn viết gì về vụ việc, "chỉ có một phương tiện duy nhất là blog của mình".

Bo truong oi!

“Bộ trưởng ơi,
hãy ở lại với giáo dục!”

Thông tin nói ông Nguyễn Thiện Nhân sẽ lên làm Phó Thủ tướng đã được bàn luận trên chính tờ báo mạng Edu.net của Bộ Giáo dục suốt từ ngày 11-7-2007. Có vài ý kiến đề nghị: “Bộ trưởng ơi, hãy ở lại với Giáo dục”. Ngày 14-7-2007, tờ báo mạng của bộ, Edu.net, cho biết: “Bạn yên tâm, bộ trưởng (sẽ) trở thành phó thủ tướng nhưng vẫn kiêm Bộ trưởng Bộ Giáo dục”.

Ông Nguyễn Thiện Nhân nhận chức Bộ trưởng Bộ Giáo dục mới được vừa đúng một năm. Trong một năm đó, có thể nói, ông là nhân vật được chú ý và đích thân tạo ra nhiều sự kiện nhất trong hàng các vị bộ trưởng. Ngay sau khi chức Bộ trưởng của ông Nhân được Quốc hội phê chuẩn, báo Tuổi Trẻ đã cho đăng bức thư của “một người dân” ở Đà Nẵng tên là Quỳnh Anh. Bức thư nêu khá chính xác các căn bệnh của nền giáo dục và bày tỏ sự kỳ vọng vào “tân Bộ trưởng”. Ông Nhân trả lời với cam kết: “10 năm tới, giáo dục Việt Nam sẽ khác”. Có khá nhiều thư sau đó, tuyên bố: “Chúng tôi tin ông”.
“Bệnh thành tích” và “tiêu cực” là hai thứ mà ông Nguyễn Thiện Nhân tuyên bố “nói không”. Ông mở đầu chuyến đi cơ sở với tư cách là một bộ trưởng của mình ở Hà Tây và đích thân đến thăm nhà thầy giáo Đỗ Việt Khoa, người lúc đó rất nổi tiếng vì đã dũng cảm đưa ra nhiều bằng chứng tố cáo nạn gian lận trong thi cử. Vợ thầy Khoa đã khóc vì xúc động; bởi, theo báo chí, lúc đó “do lo sợ trước những lời đe doạ, thầy Khoa đã đưa 2 con đi sơ tán”.
Không chờ tới 10 năm, ông Nguyễn Thiện Nhân đã tạo ra sự khác biệt về mặt “thành tích” cho ngành giáo dục ngay sau khi nhậm chức chưa đầy 1 năm. Kỳ thi tốt nghiệp phổ thông năm 2007 đã được ông tổ chức, tuy rất tốn kém, nhưng rõ ràng là nghiêm túc. Kết quả, chỉ có 67,5% học sinh đậu tốt nghiệp phổ thông trong lần thi đầu tiên. Có những địa phương năm trước có tỉ lệ tốt nghiệp phổ thông 98%, năm nay chỉ đạt 44,57% như Nghệ An; 57,1% như Hà Tây. Có địa phương như Tuyên Quang, năm nay chỉ có 14,3% học sinh phổ thông đậu tốt nghiệp.
Dư luận tin rằng, kết quả thi cử đó phản ánh “đúng thực tế”. Ông Bộ trưởng đã “lượng hoá” được tình trạng xuống cấp của nền giáo dục. Vực dậy một nền giáo dục đã xuống cấp không phải là việc có thể thực hiện một sớm một chiều. Tuy nhiên, bước khởi đầu là hết sức quan trọng. Ông Nhân đã không bắt đầu sự nghiệp “10 năm” của mình bằng việc thay đổi chương trình và phương pháp giảng dạy. Trong khi dạy vẫn như thế, học vẫn như thế, mà thi cử khắt khe hơn thì con số học sinh thi rớt lên tới 417 nghìn cả hai hệ: bổ túc và phổ thông là điều không có gì ngạc nhiên.
Có thể ông Nhân lựa chọn bước đi như vậy là bởi ngay từ đầu ông đã quy lỗi cho phụ huynh. Khi nghe nói có hai cháu học tới lớp 6 mà không biết đọc biết viết, ông Nhân đã ngay lập tức cho rằng: “Trước hết do sự thiếu quan tâm của gia đình, vì lẽ, học đến lớp 5 mà cháu vẫn chưa biết đọc thì gia đình phải đến cự nự với trường chứ”. Ông Nhân cũng “buộc” các bậc phụ huynh phải cùng chịu trách nhiệm về bệnh thành tích trong ngành giáo dục. Lấy tư cách là một “giáo sư kinh tế học”, ông cho rằng nếu không có “cầu” thì sẽ không có “cung”. Ông viết: Phụ huynh mà không muốn con em mình có điểm cao (hơn thực chất), sẵn sàng bồi dưỡng các thầy cô thì bệnh thành tích đâu có ở quy mô lớn và bền vững như vậy.
Ông Nhân phân tích “kinh tế” theo cách như thế có lẽ vì, ông vốn chỉ được đào tạo về điều khiển tên lửa (ông có bằng tiến sỹ điều khiển học). Ông chỉ học thêm về kinh tế thị trường tại một trường đại học của Tây Đức khi làm tuỳ viên giáo dục ở Đông Đức, 1988-1991, trong thời gian đó, bức tường Berlin sụp đổ. Thật “không ổn cả về khoa học kinh tế lẫn chính trị” khi nói với phụ huynh như vậy. Ngay trên diễn đàn Edu.net, các nhà giáo dục đã gọi cách nói của Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân là “đổ lỗi cho nạn nhân”. Không có vị phụ huynh nào muốn phải “chạy chọt”. Gần nửa triệu học sinh không tốt nghiệp là kết quả của một nền giáo dục không đạt chuẩn “phổ thông”. Không ai phải trả đủ thứ tiền học cho con để thấy con em mình thi trượt.
Trong thư “gửi phụ huynh” Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân đã gọi đúng tên căn bệnh giáo dục hiện nay: “nền giáo dục học thuộc lòng”. Nhưng, ông lại định “theo kinh nghiệm Singapore” để tin rằng có thể chuyển đổi nền giáo dục ấy bằng phương pháp “then chốt và quan trọng nhất là thay đổi cách ra đề thi”. Muốn thay đổi nền giáo dục “thuộc lòng” ấy phải từ triết lý: giáo dục tạo ra những sản phẩm biết tư duy độc lập, sáng tạo hay tạo ra những sản phẩm giáo dục chỉ biết vâng lời chứ không thể từ các kỳ thi mà được.
Chưa có một nền giáo dục nào mà học sinh phải chịu áp lực từ các kỳ thi như Việt Nam. Hàng triệu gia đình đã phải vất vả đưa con cái vào Nam ra Bắc thi đại học sau các kỳ thi tốt nghiệp, chuyển cấp. Chưa kể sự tốn kém, số phận của học sinh chịu rất nhiều rủi ro, vì các kỳ thi chỉ dồn vào một vài ngày trong năm. Nếu trong ngày thi cử đó, mà các em không may bị ốm, không may lần đầu tiên ra phố lạc đường, là coi như phải chờ đúng một năm sau mới có cơ hội làm lại. Trong khi ở các nền giáo dục tiên tiến, mà Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân đã từng được đào tạo, chỉ có những em có ý định học lên đại học mới phải trải qua một kỳ thi. Kỳ thi này được tổ chức thường xuyên, học sinh có thể chọn bất cứ thời điểm nào mà các em cảm thấy thoải mái nhất để thi. Điểm thi sẽ trở thành một trong những căn cứ để các em có thể được chọn vào một trường đại học trung bình hay nổi tiếng.
Chương trình hành động ấn tượng nhất của Bộ trửơng Nguyễn Thiện Nhân trong năm qua là “chống bệnh thành tích”, khoa trương. Nhưng, những hoạt động trong giai đoạn đầu của ông lại rất rầm rộ. Đặc biệt trong lá thư nói về “nỗi đau” của ông trong ngày 20-11, ông chủ yếu liệt kê hàng loạt “thành tích” của chính mình: chủ trì họp cơ quan trong ngày chủ nhật; về Vinh vào buổi tối; hối hả lên Con Cuông trong ngày thứ 7; gặp các nhà giáo lão thành… Và đặc biệt chương trình tham vọng nhất của ông lại là một chương trình được cho là mang nhiều “màu sắc phong trào”, rất “kế hoạch hoá tập trung” và nặng tính hình thức: chương trình đào tạo 20.000 tiến sỹ và 600 trường đại học.
Việt Nam không thiếu một con số tiến sỹ cụ thể nào đó, Việt Nam đang thiếu những vị tiến sỹ có khả năng độc lập nghiên cứu và có thể cống hiến những công trình khoa học. Không chỉ có những học sinh học thuộc lòng, không chỉ có những bài thi phổ thông copy y nguyên văn mẫu, đã từng có cả một vị hiệu trưởng đại học sư phạm bị tố cáo “đạo văn” khi làm tiến sỹ. Muốn tạo ra sự chuyển động thật sự, phải xoá bỏ triệt để bao cấp trong giáo dục đại học, xoá bỏ cơ chế chủ quản. Đại học phải được tự chủ, được chịu trách nhiệm về uy tín thương hiệu của mình. Phải mở cửa thực sự cho các thành phần xã hội tham gia vào lĩnh vực giáo dục.
Muốn làm được điều đó, cần có một ông Bộ trưởng chịu đựng được sự đụng chạm. Nếu các trường có được vai trò tự chủ, xã hội được năng động sáng tạo thì quyền lợi của các quan chức trong bộ sẽ giảm đi. Trong kỳ họp cuối năm ngoái, khi bị Quốc hội chất vấn về chất lượng đào tạo đại học tại chức, ông Nguyễn Thiện Nhân đã phân trần, tại chức đang là “nồi cơm” của các thầy cô. Dư luận hiểu, uy tín và chất lượng của giáo dục đã chưa vượt qua sức ép “nồi cơm” của ngành được. Dư luận càng hiểu hơn vì sao ông Nguyễn Thiện Nhân đã không thể quyết định phá bỏ sự độc quyền một cách vô lý của nhà xuất bản Giáo Dục trong lĩnh vực in ấn sách giáo khoa.
Có thể những gì mà Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân đang phải trải qua cũng rất vất vả. Khi vừa nhậm chức ít ngày, người ta thấy ông xuất hiện một cách mạnh mẽ, như là một chỗ dựa hết sức vững chãi bên cạnh thầy Khoa. Để rồi, về sau, khi biểu tượng “chống tiêu cực” Đỗ Việt Khoa có dấu hiệu bị trù dập, người ta lại thấy ông im lặng. Ông đã từng xuống tận cơ sở trong vụ một ông giáo ở một trường cao đẳng “đổi điểm gạ tình”; đã về tận Vĩnh Long và lên tiếng khi một em học sinh hack vào trang web của Bộ thay hình ông. Nhưng, dạo tháng Tư vừa qua, khi một em học sinh lớp 5 bị nhà trường đưa đi hỏi cung đến mức phải vào bệnh viện tâm thần thì không thấy ông đâu cả.
Ông Nhân là con trai của một trí thức tên tuổi, Giáo sư bác sỹ Nguyễn Thiện Thành. GS Thành tốt nghiệp bác sỹ tại Pháp, ông là người đã tìm ra nhiều giải pháp hữu hiệu để trị liệu vết thương cho bộ đội thời chiến tranh. Ông nguyên là giám đốc bệnh viện Thống Nhất, bệnh viện chuyên điều trị cho các nhà lãnh đạo cao cấp. Ông Nguyễn Thiện Nhân được đưa đi đào tạo ở Cộng hoà Dân chủ Đức ngay sau khi gia nhập quân đội và tốt nghiệp tiến sỹ điều khiển học. Từ tháng 6 năm 1993 đến tháng 8 năm 1995 ông nhận được học bổng của Chính phủ Mỹ đi học cao học về tài chính công tại đại học Oregon và sau đó tu nghiệp về thẩm định dự án đầu tư tại đại học Harvard.
Thời gian đứng đầu một cơ quan của ông Nguyễn Thiện Nhân thường không đủ dài để mọi người có thể hiểu biết một cách đầy đủ những đóng góp của ông. Chỉ hơn hai năm làm Giám đốc sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường ông đã được đưa lên làm Phó chủ tịch UBND TP HCM. Có thể, chỉ mới một năm làm Bộ trưởng, ông Nguyễn Thiện Nhân chưa kịp thể hiện tư duy chiến lược của mình, như các bậc phụ huynh kỳ vọng, để tác động một cách mạnh mẽ hơn vào nền giáo dục. Nhưng, ông Nhân là một trong không nhiều những nhà lãnh đạo được đào tạo một cách căn bản. Ông có thể sử dụng lưu loát hai ngoại ngữ. Và, dù với cương vị nào ông cũng đã chứng tỏ một cách ấn tượng tính năng động của một cán bộ đã từng làm công tác đoàn.
Huy Đức (blog Ôsin)

Bac Nhan & nhung bi mat khong nen tiet lo!

Bác Nhân
& những bí mật không nên tiết lộ!

Câu chuyện con chó được một phụ huynh ở Bắc Giang mang đến nộp thầy, khi nhà trường yêu cầu đóng học phí, đã được Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đưa vào lá thư, viết một cách gay gắt, yêu cầu “xử lý” phóng viên của báo Sài Gòn Giải Phóng (SGGP). Sau khi chấm xuống dòng đoạn nói về “con chó” này, ông Nhân cảm thán: “Nghèo đến vậy đó, đau lòng vậy đó!”

Ông Nhân kể câu chuyện đó, để khẳng định, một người thấu hiểu nỗi đau của nhân dân như ông, không thể phát biểu cái câu mà báo SGGP trích dẫn: “Học phí chắc chắn sẽ phải tăng, có thể chấp nhận cả việc số người đi học sẽ giảm vì tăng học phí”. Ông Nhân cho rằng, báo SGGP đã “Gán cho tôi phát biểu một quan điểm, một câu nói mà tôi không hề nói”. Rồi ông yêu cầu người viết bài cung cấp “tư liệu thật”!
Báo SGGP, may thay, vẫn giữ được tư liệu thật. Ngay sau khi bức thư của ông được đăng trên Vietnamnet. Phóng viên Đinh Lan của báo SGGP tại Hà Nội đã cho ông Nguyễn Thiện Nhân nghe lại đoạn băng ghi âm lời phát biểu của ông, nguyên văn: “Giải pháp (mà) để giúp các trường bớt áp lực về tài chính lúc này là vấn đề tăng học phí. Tôi nói rồi, nếu học phí mà tăng nhiều hơn thì mình có thể phải chấp nhận làm giảm số lượng người đi học để đảm bảo chấp lượng”.
Cũng cần phải nói lại cho rõ, “học phí” mà ông Nguyễn Thiện Nhân nói ở đây có thể không phải là học phí phổ thông, vì ông đề cập tới nó sau khi ông nói về giáo dục đại học. Bài viết của chị Mai Lan, một trong những nhà báo viết về giáo dục có uy tín nhất, trên SGGP, cũng chủ yếu nói về giáo dục đại học. Tuy nhiên có thể chia sẻ với ông Nhân rằng, tuyên bố đó có thể khiến dư luận nghĩ, ông đang định tăng học phí đối với cả học sinh phổ thông nữa.
Tôi sẽ dành cho bạn comment quan điểm của ông Nhân: Tăng học phí (cho dù là học phí đại học) sẽ bớt được những người học hành không chất lượng. Bài viết này, tôi muốn nói về một vấn đề khác.
Thực ra, chuyện tăng học phí, kể cả bậc phổ thông đang được rục rịch chuẩn bị. Những nhà báo quan sát mảng giáo dục đều thấy rõ điều này. Nếu như, nhận thấy tuyên bố của mình là không đúng thời điểm hoặc bị “gõ đầu” như nhận định của Gã Thợ Cày, ông Nhân có thể bình tĩnh yêu cầu các báo tạo cho ông một cơ hội để nói rõ hơn quan điểm của mình về học phí.
Nhưng ông Nhân là người có quyền. Ông Nhân không cư xử như vậy. Bức thư gửi báo SGGP nhắc ta nhớ lại hình ảnh của một ông Bộ trưởng chưa có thói quen ứng xử độ lượng trong lá thư nói về vụ hacker Bùi Minh Trí ở Vĩnh Long. Cũng có thể, nếu không phải là Phó Thủ tướng phụ trách báo chí, ông Nguyễn Thiện Nhân đã không quá tự tin khi mắng phủ đầu báo SGGP như thế.
Nhưng, ông Dương Trọng Dật đã bước sang tuổi 61, chắc ông Dật không thể làm Tổng Biên Tập cho đến khi (biết đâu) ông Nhân trở lại Sài Gòn! Nếu sợ uy quyền Phó Thủ tướng, để đính chính một điều mà phóng viên không sai, thì những ngày hưu trí của ông Dật đâu còn ai tới thăm. Rồi, mai mốt, khi “nắm” khoa báo chí đại học Văn Lang, ông Dật biết dạy ra sao với lớp trẻ! Ông Dật cũng có thể cho công bố băng ghi âm, “xử trảm” uy tín Nguyễn Thiện Nhân. Tất nhiên, chúng ta không thể hy vọng vào điều đó. Theo tin mà chúng tôi nhận được, SGGP vẫn đang mềm mỏng dành cho ông Nhân cả weekend để chuẩn bị một bài phỏng vấn. Nhưng, có rất ít hy vọng, trong bài phỏng vấn này, ông Nhân sẽ ứng xử với SGGP như là với một cơ quan báo chí, chứ không phải như là một thuộc cấp!
Thực ra khi nhận chức Bộ trưởng Bộ Giáo dục, ông Nhân đã nhận được sự ủng hộ rất thật lòng từ báo chí. Đâu phải lúc nào cũng kiếm được một ông Bộ trưởng, có bằng tiến sỹ thật và biết nói tiếng Anh. Tuy nhiên, thời gian qua, những gì ông Nhân làm chỉ là công việc của một Chánh Thanh tra Bộ. Ông đánh rớt nhiều học trò hơn trong một kỳ thi, ông không cho các em quay cóp. Những công việc ấy suy cho kỹ, cũng như một cuộc thi nhảy cao. Đợt thi đầu ông để sào nhích lên, chỉ có 67% vượt được; đợt thi sau, sào mềm mỏng; số học sinh tốt nghiệp tổng cộng, cũng lên tới 80%. Tuy nhiên, cái mà nền giáo dục cần là làm sao sào vẫn được giữ ở độ cao ổn định mà số học sinh có khả năng vượt được đông hơn, thì ông vẫn chưa làm được.
Sau hơn một năm làm Bộ trưởng, những tuyên bố của ông Nhân ấn tượng hơn rất nhiều so với việc ông làm. Có lẽ, bản thân ông cũng không nhớ hết những điều ông đã nói, nên khi công chúng phản ứng với chuyện tăng học phí, ông lập tức đồng cảm với nhân dân. Không nhớ, ý tưởng đó phát ra từ Nguyễn Thiện Nhân chứ không phải từ ai đó! Ông Nhân cũng thích viết. Có lẽ, ông vẫn tự tay viết lấy các lá thư của mình. Nếu ông chịu tham khảo và biết lắng nghe, dù chỉ là một người bình thường, chắc chắn, những lá thư như vừa qua đã không thể lọt ra công luận.
Có lẽ ông Nhân biết, nhà báo viết bài trên báo SGGP là Mai Lan, người không có mặt trong cuộc họp báo ở Hà Nội. Nên ông nghĩ, Mai Lan không thể có băng ghi âm. Có thể ông Nhân không biết, “bọn nhà báo” bây giờ còn chơi blog, chúng nó lập tức cung cấp cho Mai Lan những “tư liệu thật” để làm bằng. Chưa kể, Bố Cu Hưng còn đưa hẳn đoạn băng ghi lời ông lên blog.
Tuyên bố của ông: “Tôi, Nguyễn Thiện Nhân, không thể là người thiếu lý trí và lương tâm tới mức phát biểu như báo (SGGP) đã trích dẫn”, giờ đây cũng giống như một lời tự thú. Ông, đương nhiên, con đường phát triển còn dài. Để giữ uy tín làm việc, “lý trí và lương tâm” của ông, đáng lẽ phải được coi là quốc gia bí mật. Vietnamnet và anh Đức Hiển thật mất cảnh giác, khi cho đăng bức thư rồi lại công bố đoạn ghi âm này.
Huy Đức (blog Ôsin)

Luat Thue & Quoc hoi chuyen nghiep

LUẬT THUẾ
& QUỐC HỘI CHUYÊN NGHIỆP

Có hiệu lực từ hôm qua, 1-1-2009, nhưng đến nay, vẫn chưa ai biết chắc, Luật Thuế thu nhập cá nhân sẽ được thực hiện thế nào. Thời gian là một mốc kiểm định khắc nghiệt, nó để lại sau lưng những bộ máy bất cập. Hình ảnh người dân xếp hàng từ 4 giờ sáng để đăng ký mã thuế cho thấy, ý thức tuân theo pháp luật trong xã hội đã từng bước tăng tiến. Chính sự lúng túng của nhà nước trước thời hiệu thi hành một số luật đã làm lỗi nhịp, không chỉ với ý thức của dân chúng, mà còn với nhiều cơ hội giúp quốc gia phát triển.

Mười tháng sau khi Luật Thuế Thu nhập cá nhân được Quốc hội thông qua, ngày 8-9-2008, Chính phủ mới có Nghị định và, 30-9-2008, Bộ Tài chánh mới có thông tư hướng dẫn. Thế nhưng, những văn bản “dưới luật” ấy không những đã chưa chi tiết hóa nhiều quy định mới ở dạng “khung”, mà còn làm nổ ra cuộc tranh luận về đối tượng được khấu trừ gia cảnh. Đối tượng được khấu trừ gia cảnh không phải là một chi tiết kỹ thuật mà là một phần quan trọng của chính sách, là một nội dung mang tính quy phạm. Nó phải được tranh luận trong quá trình làm luật ở Quốc hội và Theo Luật Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL), nó phải được quy định rất cụ thể để khi Luật có hiệu lực thì thi hành được ngay. Những văn bản như nghị định (hướng dẫn thi hành luật) và thông tư chỉ có quyền quy định chi tiết quy trình, quy chuẩn kỹ thuật và những vấn đề chưa ổn định (ví dụ: giá để tính thuế…). Khi người dân hay cơ quan hành pháp không rõ một điều nào đấy trong luật thì phải trình lên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, cơ quan duy nhất có thẩm quyền giải thích, thay vì đưa ra tranh luận. Nếu, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thường xuyên giải thích luật và thường xuyên giám sát để bãi bỏ những quy định vượt quá thẩm quyền trong các văn bản ấy. Thì, sẽ tránh được những giải thích tùy tiện, đôi khi khiến cho những quy định trong các thông tư, nghị định không còn là ý chí xuất phát của các nhà làm luật. Luật Thuế thu nhập cá nhân dành hơn 13 tháng cho công tác chuẩn bị, nhưng, cho tới nay, hàng chục triệu người trong diện chịu thuế vẫn chưa làm xong thủ tục đăng ký mã thuế cá nhân. Đây mới chính là một quy trình kỹ thuật thuộc thẩm quyền của cơ quan hành pháp. Lẽ ra ngay từ cuối năm 2007, công tác tuyên truyền, để người dân nhận ra ai thuộc diện chịu thuế và đăng ký mã thuế, phải đựơc Tổng cục Thuế bắt đầu. Một phần ngân sách cũng phải được chuẩn bị để thiết lập các điểm đăng ký thuận lợi nhất cho người dân. Để không làm tăng biên chế dài hạn và không làm tăng việc cho các nhân viên đương nhiệm, sinh viên có thể được tuyển dụng có thời hạn và làm việc ngoài giờ cho việc đăng ký này. Đồng thời, một phần mềm để đăng ký mã thuế online cũng phải được thiết lập để giảm chi phí quản lý và tăng tiện ích, khuyến khích người dân đóng thuế. Việc Ủy ban Thường vụ Quốc hội, trong phiên họp chiều 27-12-2008, không chấp thuận đề xuất hai phương án của Chính phủ, lùi thời điểm thi hành hoặc miễn, giảm thuế thu nhập cá nhân, là đúng. Nhưng, lẽ ra Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nếu thấy cấp thiết, nên triệu tập Quốc hội họp bất thường thay vì “trình Bộ Chính trị trong tháng Một”. Đành rằng, theo Hiến pháp, Đảng là cơ quan lãnh đạo. Nhưng, “Đảng lãnh đạo nhà nước không có nghĩa là làm thay chức năng của các cơ quan nhà nước”. Hiến pháp quy định, chỉ có Quốc hội mới có thẩm quyền thay đổi thời hiệu thi hành một văn bản luật. Hai phương án xử lý, nếu là cấp thiết nhằm “ngăn chặn đà suy giảm phát triển kinh tế”, như Chính phủ đề nghị, thì cần phải được xử lý kịp thời. Việc triệu tập Quốc hội trong một phiên họp bất thường tuy cũng tốn kém, nhưng sẽ không so sánh được với những tổn thất, nếu như suy thoái kinh tế không được kịp thời ngăn chặn. Tình huống xử lý Luật Thuế được thảo luận chiều 27-12 cho thấy, Việt Nam đã ở trong một giai đoạn không thể không tuân thủ những nguyên tắc tối thiểu của nhà nước pháp quyền. Các cơ quan nhà nước không thể nhân danh cứu nguy suy thoái kinh tế để hành xử vượt quá thẩm quyền pháp lý. Nhưng, nếu như vì những ràng buộc pháp lý mà phải chờ tới phiên họp Quốc hội tháng 5 tới đây mới có thể đưa ra các giải pháp, thì những tổn thất mà quốc gia phải gánh chịu cũng sẽ to lớn khôn lường. Rõ ràng, không thể đáp ứng cả hai đòi hỏi ấy nếu Quốc hội không trở thành một cơ quan hoạt động thường xuyên và chuyên nghiệp.
Huy Đức - Mỹ Lệ (blog Ôsin)

Cong-toi xe may


Công - tội xe máy!


Ra đường, nhất là ngồi trong xe hơi, thấy những chiếc xe máy lượn lách ngay trước mũi, nhiều vị rất hay nổi nóng. Có địa phương, vì thế, đã dăm lần bảy lượt, đòi cấm loại phương tiện giao thông, gần như là lựa chọn duy nhất, của đa số dân chúng này. “Văn hóa xe máy”, có lẽ, cũng là một trong những yếu tố thúc đẩy sự gia tăng của “nền văn minh nhà ống”, và, đích thị, liên quan rất mật thiết đến tình trạng lấn chiếm vỉa hè. Tuy nhiên, nếu cấm xe máy thì chúng ta sẽ đi lại bằng gì, trong khi, giao thông công cộng chỉ đáp ứng 5% nhu cầu của người dân TP.

Những gì mà chính quyền thành phố Jakarta, Indonesia, đang làm hiện nay là để chống tình trạng giao thông, có thể, bế tắc vào năm 2014. Quản lý đô thị đòi hỏi phải có viễn kiến như vậy, tuy, chưa chắc nhưng giải pháp của Jakarta đã thành công. Ở Việt Nam, vấn đề xe máy, lẽ ra, phải được nhận thức từ thập niên 80, khi mà những chiếc “Cub nghĩa địa” bắt đầu lén lút xuống tàu viễn dương về nước. Trước năm 1975, giao thông công cộng ở Sài Gòn đã từng đáp ứng hơn 10% nhu cầu đi lại. Nếu từ xuất phát điểm ấy, TP phát triển thêm xe bus, tàu điện treo, tàu điện ngầm… thì những chính sách hạn chế phương tiện giao thông cá nhân về sau, mới mong áp dụng.
Hiện có khoảng 4 triệu xe cộ các loại được đăng ký lưu hành tại TP HCM, ngoài ra, hơn nửa triệu xe cộ đăng ký tại các địa phương vẫn hàng ngày qua lại. Để vượt một ngã tư ở Sài Gòn, dòng xe trung bình phải mất 2- 3 chu kỳ đèn đường. Đây là một hình ảnh khá tiêu biểu, được mô tả trong một văn bản của UBND TP: “Dòng xe bus di chuyển rất chậm qua các giao lộ và bị bao vây bởi một rừng xe gắn máy”. Thế nhưng, mỗi ngày TP HCM vẫn cho đăng ký thêm khoảng 100 xe ô tô và 900 xe máy. “Chầm chậm” là vẫn còn may, không lâu nữa, xe cộ sẽ nêm chặt các thành phố.
Mở thêm đường sá, xây dựng hệ thống tàu điện ngầm… mới giải quyết một cách căn bản tình trạng này. Nhưng, chưa có gì đảm bảo là trong 10- 15 năm tới, tàu điện, ngầm hay treo, sẽ bắt đầu rục rịch. Không thể không có các giải pháp, kể cả những giải pháp trực tiếp, hạn chế lượng xe cộ lưu thông tại các TP lớn. Vấn đề là có nên chọn xe máy làm “đối tượng” chính, như các đề án lâu nay vẫn làm.
Năm 2005, Hà Nội đã tạm dừng cho đăng ký xe máy ở 7/14 quận, huyện. Tuy nhiên, sau một thời gian, biện pháp này đã phải bãi bỏ. Người dân Hà Nội vẫn phải ra đường, đi bus thì không tiện, và, đâu phải ai cũng có tiền để đi taxi. Năm 2004, TP HCM cũng đã từng có đề án thu phí xe gắn máy, với dự định thu khoảng 300 nghìn đồng/xe/năm. Nhưng, đề án cũng đã không thông qua được.
Về lý thuyết, một chính sách đánh vào túi tiền của gần như mọi người dân thì rất khó lòng tìm được sự nhất trí. Nhất là khi người dân không có đủ thông tin để tin rằng, số tiền đó sẽ giúp cải thiện tình trạng giao thông mà họ đang gánh chịu. Trên thực tế, với mật độ lưu thông hiện nay, chính sự gọn nhẹ và linh hoạt của xe máy đã không làm cho tình trạng giao thông trở nên bế tắc. Một chiếc xe máy có thể chở hai người, một chiếc xe 4 bánh cũng thường chỉ chở 2 người, trong khi mức độ chiếm chỗ của một chiếc xe hơi có thể gấp bốn lần xe máy. Đặc biệt, khi đã kẹt thì xe hơi chỉ có thể nằm chờ, trong khi, xe máy có thể thoát ra theo từng lối nhỏ.
Không phủ nhận là “văn hóa chen lấn” của xe máy nhiều khi là nguyên nhân kẹt xe. Nhưng, như chúng ta chứng kiến, không phải xe hơi không chen lấn. Con số 70% tai nạn giao thông do xe máy gây ra cũng là một con số lâu nay được dùng để cáo buộc loại phương tiện giao thông này. Nhưng, xe máy đang đảm đương tới 90% lượng lưu thông, xét tương quan, tỷ lệ tai nạn do xe máy gây ra là không cao hơn như người ta lầm tưởng.
Từ năm 2003, TP HCM đã áp dụng một mức thu lệ phí trước bạ xe máy cao hơn các địa phương khác tới 1 triệu đồng/xe. Tuy nhiên, các số liệu cho thấy, lượng xe đăng ký ở TP HCM không hề giảm. Bởi người dân vẫn phải mua xe dùng cho nhu cầu đi lại của họ và chính sách này chỉ làm cho chi phí mua xe của họ cao hơn. Theo chúng tôi, TP HCM hoàn toàn có thể áp dụng bài toán của Singapore và Thượng Hải, tính toán một lượng xe hơi, mà giao thông TP có thể chấp nhận tăng thêm hàng năm, để cấp quota cho đăng ký.
Từ năm 1990, Chính phủ Singapore bắt đầu áp dụng chính sách hạn chế số lượng phương tiện giao thông. Ví dụ như, vào tháng 10 năm 2004, Chính phủ chỉ phát ra 7322 chứng chỉ mua xe trong khi có 8605 người muốn mua. Thế là phải đấu giá. Giá trúng thầu quyền mua xe mới tháng đó, lên tới 12.745 USD/xe. Cuối năm 2004 Thượng Hải cũng ban hành chính sách đấu giá biển đăng ký xe hơi, mặc dù phương thức này đã áp dụng từ trước đó.
Từ năm 2002- 2004, bình quân mỗi tháng Thượng Hải chỉ cấp ra khoảng 4.000 biển đăng ký xe mới. Giá bỏ thầu mỗi biển số xe, trung bình từ 15- 40 nghìn nhân dân tệ/xe, bằng khoảng 1/3 giá mua một chiếc xe mới. Lúc đầu, ở Thượng Hải, nhiều người đối phó bằng cách mua xe, đăng ký ở nơi khác. Nhưng sau đó, chính quyền ban hành những khoản thu mới, áp dụng cho xe mang biển số tỉnh mỗi khi chạy vào Trung tâm nên lượng xe lưu thông tại thành phố vẫn nằm trong tầm kiểm soát.
Ở Singpore hay Thượng Hải, nếu hạn chế xe hơi, người dân có thể lựa chọn các phương tiện giao thông công cộng. Ở ta, chính sách hạn chế này sẽ chuyển nhiều người thích đi lại bằng xe hơi sang đi taxi. Những người khác sẽ đi xe gắn máy. Như vậy, nếu như, cấm xe máy sẽ khiến cho nhiều người bế tắc thì hạn chế xe hơi chỉ nhắm vào một bộ phận dân cư có thu nhập cao.
Mặt khác, sẽ là công bằng khi việc hạn chế xe hơi ở thành phố sẽ làm cho xe hơi ở nông thôn rẻ hơn. Những người giàu lên ở nông thôn có thể thụ hưởng “văn hoá xe hơi” mà không phải bỏ ra nhiều tiền như dân thành phố. Những người khá lên sẽ không chọn con đường vào thành phố bằng mọi giá như lâu nay họ vẫn làm. Biện pháp tài chánh này sẽ không đụng chạm tới “quyền được sung sướng” hơn người khác của người giàu. Nhưng vì người đi xe hơi sẽ chiếm dụng hạ tầng nhiều hơn, các chủ xe xứng đáng phải đóng góp nhiều hơn cho TP.
Tất nhiên, nếu như những chính sách đụng chạm tới xe máy dễ bị phản ứng bởi số đông, chính sách hạn chế xe hơi cũng không dễ thông qua vì nó sẽ đụng vào những người có thế lực. Về lâu dài, phải giải quyết bài toán giao thông đô thị bằng các giải pháp căn bản. Nhưng trong khi chờ đợi. TP cũng phải làm một cái gì đó, nếu không, trong tương lai không xa nữa, đường phố sẽ chỉ còn một chức năng duy nhất là trở thành bãi đỗ xe.

Huy Đức (blog Ôsin)

Dao duong & Quyen luc cong

Đào đường
& Quyền lực công

Một bé trai 14 tuổi chết hôm 26-7-2008 do rơi xuống một công trình đang thi công gần cầu Nguyễn tri Phương, quận 8, TP HCM. Mười ba ngày trước đó, 13-7, tại Phường Thảo Điền, quận 2, một bé trai bốn tuổi cũng chết do rơi xuống một hố ga đang thi công mà không hề đậy nắp. Năm ngoái, tại Tân Thuận Đông, 4 đứa trẻ cũng đã chết đuối do sụp xuống hố sâu của một công trình đặt đường ống nước. Người dân Sài Gòn, vốn rất dễ xúc động trước những cái chết của các em nhỏ tỉnh xa, trong những vụ đắm đò ở Chôm Lôm, Nông Sơn…, nay, không ít người nhận ra mối đe dọa với con em họ, có thể cũng ở đây, ngay giữa trung tâm TP.

Chưa có vụ việc nào bị khởi tố. Chưa thấy các cơ quan tố tụng truy cứu “trách nhiệm hình sự” trong những trường hợp “gây chết người” này, cho dù, ở TP đã từng có “án lệ”. Mười tám năm trước, giám đốc đơn vị đào đường Hoàng Hoa Thám để đặt đường ống thoát nước đã bị xử 6 năm tù giam do không thiết lập rào chắn, khiến 2 cô cháu chết khi rơi xuống hố sâu 3 mét của công trình đang thi công này. Tính chất của vụ “đào đường Hoàng Hoa Thám” hồi năm 1990 và những vụ bất cẩn gây chết người gần đây là như nhau. Sự khác biệt, có lẽ nằm ở chỗ, Chính quyền hiện nay coi những cái chết như vậy là tai nạn.
Dựng hàng loạt “lô cốt” trên hàng chục tuyến đường của TP để xây dựng các công trình hạ tầng đúng là một việc chẳng đặng đừng. Nhưng, không thể nhân danh lợi ích công cộng để có thể bỏ qua những nguyên tắc an toàn đối với các công trình xây dựng. Không chỉ những trường hợp gây chết người, với nhiều dấu hiệu hình sự, như vừa kể trên mới đáng quan tâm, những thiệt hại cho những người dân sinh sống, kinh doanh ở những nơi có những “lô cốt” này đi qua, nếu cứ nhân danh quyền công mà bỏ qua, cũng rất dễ xảy ra tình trạng lạm quyền của các chủ đầu tư và các nhà thầu xây dựng chúng.
Hàng chục hộ kinh doanh bên dãy số lẻ đầu đường Hàm Nghi, 3 năm trước, bị bịt đường đi lại trong suốt hơn một năm. Có trường hợp phải ngừng kinh doanh, có trường hợp, như khách sạn Quê Hương II, bị vỡ nhiều hợp đồng và bị không ít khách hàng bỏ đi, thiệt hại không thể nào tính hết. Hàng nghìn hộ dân kinh doanh trên các tuyến đường thuộc Dự án môi trường Nhiêu Lộc- Thị Nghè đang phải chịu “ế ẩm” do bị các dãy lô cốt chắn trước cửa nhà nhiều tháng trời. Những công trình như vậy, cho dù là hết sức cần thiết, thì lợi ích của nó là lâu dài và phục vụ cho mọi người. Thiệt hại, rủi ro, vì thế, sẽ là không công bằng khi chỉ buộc những người dân sống cạnh những công trình này chịu đựng.
Kinh phí đầu tư cho những công trình trong TP cần phải được tính bao gồm cả những khoản đền bù cho những người dân bị thiệt hại do việc thi công các công trình gây ra. Bồi thường dân sự không chỉ là đạo lý và trách nhiệm pháp lý của Chính quyền mà còn là một công cụ chế tài các nhà thầu. Những người nhận thi công những công trình như vậy sẽ không dám cẩu thả vì nếu gây ra chết người, họ sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu kéo dài thời gian thi công, họ sẽ phải bồi thường cho những gì mà những người dân ở đó chịu đựng do việc xây dựng các công trình này gây ra. Nên khuyến khích các hộ dân trong những khu vực này kiện các nhà thầu ra tòa. Chính những khoản bồi thường dân sự sẽ là công cụ “kiểm tra, giám sát” hữu hiệu nhất chứ không phải chỉ là các thanh tra viên có thể bị lũng đoạn bởi các nhà thầu xây dựng.
Tám năm trước, khi đoàn làm phim Người Mỹ Trầm Lặng đến Sài Gòn, đạo diễn Philippe Noyce đã rất ngạc nhiên khi được TP cho phép chặn một số tuyến đường ở khu vực Nhà hát Thành phố suốt cả tuần liền để quay phim (tương tự như Đoàn làm phim Người Tình trước đó). Chính Philippe Noyce đã phải thừa nhận rằng, không mấy đâu trên Thế giới chính quyền lại có thể ban cho đoàn làm phim một đặc ân như vậy. Tất nhiên, Đoàn làm phim đã phải bồi thường thỏa đáng cho những hộ dân có cơ sở kinh doanh trong khu vực. Nhưng, những thiệt hại cho những người dân phải đi vòng để tránh Người Mỹ Trầm Lặng thì không được bồi thường. Đoàn làm phim đã khai thác “quyền lực công” mà TP ban cho, để buộc những người dân khác phải chịu phiền hà do quyền lợi hết sức riêng tư của họ.
Không nên trông đợi những người từ xa tới, cũng như những nhà thầu xây dựng, phải quan tâm đến quyền lợi của người dân một khi Chính quyền không tiên liệu hết những điều phiền hà ấy. Sự an toàn về tính mạng và cuộc sống bình thường của người dân là những giá trị mà chính quyền, bất cứ ở đâu, cũng đều sinh ra chỉ nhằm một mục tiêu là bảo vệ. Không lý gì một ông lão 82 tuổi để đắm đò, làm chết các em học sinh ở Nông Sơn, Quảng Nam, phải chịu 3 năm tù giam mà những kẻ đào đường không che chắn để làm chết trẻ em ở giữa một thành phố văn minh lại không chịu tội. Không lý gì những người dân phải chịu đi lại khó khăn, thua lỗ trong kinh doanh chỉ vì sự bê trễ của các nhà thầu. Không thể nhân danh lợi ích công để lạm dụng quyền lực công. Sự nghiêm minh với những công trình do nhà nước đầu tư không chỉ là một đòi hỏi đương nhiên mà còn có tác dụng làm gương cho tinh thần thượng tôn pháp luật.

Huy Đức (blog Ôsin)

Ghi no len bang

Ghi nợ lên bằng!

“Sáng kiến” ghi các khoản nợ sinh viên lên bằng tốt nghiệp đã khiến cho dư luận sửng sốt. Có thể nhiều người không ngạc nhiên khi nó được “kết luận” bởi Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân. Nhưng vấn đề không phải là cá nhân ông Nhân. Có lẽ, “cảm giác bị xúc phạm” sẽ không xuất hiện nếu đề nghị ấy chỉ được đưa ra bởi các quan chức ngân hàng, thay vì một người đứng đầu ngành giáo dục.

“Ghi nợ lên bằng tốt nghiệp” chỉ là một chi tiết kỹ thuật, sở dĩ nó tạo ra sự bất bình, theo tiến sỹ Nguyễn Ngọc Điện, chủ yếu vì “tác giả” của “sáng kiến” đó “chưa thấm nhuần văn hóa pháp luật”. Tín dụng cho sinh viên nghèo là một chương trình quan trọng. Việc điều chỉnh nó, không chỉ là tìm chỗ ghi nợ cho các sinh viên, không chỉ đòi hỏi người soạn thảo phải “có văn hóa”, mà còn phải làm rõ yếu tố chính sách dựa trên những phân tích khoa học thì mới mong phát huy tác dụng.
Cho sinh viên vay tiền đi học không phải là một hoạt động kinh doanh tín dụng mà là một đầu tư cho giáo dục. Vì thế, các ngân hàng không thể đơn phương thực hiện mà phải bắt đầu từ nhà nước bằng một chính sách được cẩn trọng đo lường.
Lâu nay, ngân sách của nhà nước chủ yếu được rót cho các địa phương, cho các sở, trường. Năm 2007, trong số 66.700 tỷ đồng chi cho Giáo dục, có tới 55.240 tỷ dùng để “chi thường xuyên”. Dành một phần ngân sách thích đáng để đầu tư trực tiếp cho sinh viên, học sinh thông qua các quỹ như: trợ giúp không hoàn lại cho các sinh viên khó khăn đặc biệt; quỹ cho sinh viên vay để đóng học phí; quỹ cho cha mẹ vay để lo tiền ăn học cho con… là một công cụ không thể thiếu nếu muốn tạo ra chút ít cơ hội cho những người nghèo.
Quỹ Tín dụng Đào tạo, chỉ trong vòng 2 tháng đã cho tới 500 nghìn sinh viên, học sinh vay với số tiền 2.188 tỷ đồng, cho thấy, vay tiền đi học là một nhu cầu có thật. Tuy nhiên, có lẽ vì việc cho sinh viên vay chưa được thiết kế như là một chính sách giáo dục, đầu từ trực tiếp cho người học, cho nên nó đang được “phân phối” chỉ thông qua một kênh duy nhất là Ngân hàng Chính sách xã hội thay vì có sự tham gia của cả hệ thống ngân hàng.
Sinh viên khi vay tiền từ Quỹ này được hưởng một lãi suất rất thấp, 0,5%/tháng, và nợ cả vốn lẫn lãi, chỉ sau khi ra trường một năm mới bắt đầu thu hồi. Không thể có một ngân hàng thương mại nào có thể chịu được lãi suất như vậy. Nhưng nếu chỉ giao cho Ngân hàng Chính sách xã hội thì không những rủi ro được tập trung ở một nơi, năng lực thẩm định, cho vay và thu hồi vốn sẽ không bằng các ngân hàng kinh doanh khác, mà nguồn tiền cho vay cũng sẽ bị hạn chế rất nhiều.
Hàng năm, ngân sách giáo dục nên dành một phần thích ứng để rót thẳng vào các quỹ này, nhưng khoản tiền cho vay không chỉ dựa vào nguồn tiền đó. Nhà nước sẽ “bảo lãnh” để sinh viên đủ điều kiện có thể vay tiền ở bất cứ ngân hàng thương mại nào. Khoản tiền ngân sách này sẽ chi để bù đắp cho các ngân hàng thương mại phần chênh lệch mà các ngân hàng này áp dụng khi cho sinh viên vay so với các nguồn tín dụng thương mại khác. Ví dụ, lãi suất thương mại là 1%/tháng trong khi lãi suất cho sinh viên vay chỉ là 0,5% thì ngân sách nhà nước sẽ được sử dụng để bù đắp phần chênh lệch lãi (1% - o,5%) áp dụng cho các sinh viên. Lãi suất lẽ ra chỉ nên áp dụng với tín dụng sinh viên sau khi ra trường, có việc làm và ngân sách sẽ chi bù vào khoản lãi đã miễn cho sinh viên đó. Ngân hàng Chính sách xã hội nên được nhà nước ủy nhiệm để đứng ra thẩm định và chi những khoản chênh lệch hợp lý cho các ngân hàng thương mại thay vì trực tiếp cho vay. Một phần ngân sách khác sẽ phải được dùng để lập quỹ phòng ngừa rủi ro cho khoản nợ không phải lúc nào cũng dễ đòi này.
Cho dù việc ghi nợ vào bằng tốt nghiệp là một ý tưởng không thể chấp nhận thì lo toan của ông Nguyễn Thiện Nhân cũng có nhiều điểm rất cần được chia sẻ. Chính sách sẽ bị lạm dụng bởi những người không thực sự có nhu cầu nếu không có các chế tài để đảm bảo rằng những khoản vay này sẽ thu hồi được.
Tuy nhiên, vì nó là một chính sách xã hội nên phải tiên liệu là sẽ có những người, cho dù đã vay tiền để học nhưng sau khi ra trường không thể kiếm được việc làm có mức lương vừa đủ sống, vừa đủ để trang trải nợ nần, thì cũng nên được xem xét cho xóa nợ. Nhà nước cũng đã từng cho các doanh nghiệp quốc doanh làm ăn thua lỗ xóa nợ thì cũng nên làm như vậy với sinh viên. Cũng có thể có những sinh viên khác chây lì hoặc ngân hàng sẽ gặp khó khăn do không tìm được tung tích của họ sau khi tốt nghiệp. Cứ tiên liệu, mức độ rủi ro là 10% thì, nếu tín dụng cho sinh viên lên đến khoảng 10.000 tỷ/năm (gần gấp 5 lần mức cho vay hiện nay), khoản mà nhà nước thực chi cũng chỉ vào khoảng từ 1.500- 2000 tỷ/năm trả cho cả phần rủi ro và lãi.
Không thể có một chính sách đơn lẻ nào có thể kiểm soát được các khoản nợ này khi nó được “xé lẻ” ra cho từng người. Ghi chú vào văn bằng lại càng là một nỗ lực vô vọng, nhất là đối với những người cố tình trốn nợ (chưa nói tới khía cạnh văn hóa). Không có chế tài nào có thể hữu hiệu tuyệt đối nếu không tạo ra được một thế hệ công dân biết tôn trọng các cam kết, tôn trọng luật pháp, tự hào với việc đã hoàn thành các nghĩa vụ (như là đóng thuế) với nhà nước. Tuy nhiên, các cam kết khi vay cũng nên để cho sinh viên nhận thấy, nếu có khả năng trả nợ mà không trả thì khi bị phát hiện, với “lý lịch tín dụng xấu” đó, họ có thể gặp khó khăn rất nhiều cho tiếng tăm và con đường tiến thân trong tương lai của mình.
Phải có một trung tâm lưu trữ thuộc “chính phủ điện tử” có đầy đủ các dữ liệu cá nhân, kể cả các dữ liệu về thuế, nợ nần… mà khi cần chỉ gõ số chứng minh thư, passport, hay số “an sinh xã hội” là xuất hiện đầy đủ thì mới dễ dàng tìm kiếm những người thiếu nợ. Những sinh viên sau khi tốt nghiệp, không trả nợ, nếu an phận với xe nước mía bên bờ kênh Nhiêu Lộc hay đứng bán sức lao động ở chợ Long Biên thì còn có cơ may thoát. Nếu chưa trả nợ mà cũng đòi đi học lên cao hơn, đòi thăng chức, đòi đi du lịch… thì tất nhiên là sẽ bị phát hiện dễ dàng.
Tìm kiếm những giải pháp để có thể thu hồi những khoản tín dụng đã đầu tư cho sinh viên là cần thiết vì nó còn có ý nghĩa bảo vệ một chính sách đúng. Tuy nhiên cứ loay hoay tìm một chỗ để “đánh dấu” trên mảnh bằng tốt nghiệp, thậm chí loay hoay với các giải pháp trong ngành giáo dục hay ngân hàng cũng không thể nào xử lý được một cách rốt ráo. Cần có những giải pháp đồng bộ để làm minh bạch cả hệ thống mới mong có được sự thành công của các chính sách nhất là những chính sách có mức độ ảnh hưởng lâu dài như chính sách này.

PS: Chiều 28-3-2007, sau khi gặp Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, tôi và một vị GS người Việt từ Mỹ về (chưa tiện nói tên) được bố trí gặp ông Nguyễn Minh Hiển, Cựu Bộ trưởng Giáo dục và ông Phan Thanh Bình, khi đó vừa được bổ nhiệm làm Giám đốc Đại học Quốc gia TP HCM. Ông Hiển được đích thân Thủ tướng giới thiệu là Trợ lý Thủ tướng kiêm Thường trực Hội đồng Quốc gia Giáo dục. Buổi gặp chủ yếu bàn về hợp tác giáo dục giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. Tuy nhiên, khi phát biểu, tôi có đề nghị hai ông so sánh chính sách đầu tư giữa Pháp và Mỹ và đề nghị nên giành một phần ngân sách để đầu tư trực tiếp thông qua các quỹ cho sinh viên vay. Ông Hiển nói là ông cũng đã từng nghe những đề xuất như vậy và ông cho điều đó là cần thiết. Tôi không rõ “Tín dụng Đào tạo” hiện nay là sáng kiến từ ông Nhân hay đã bắt đầu từ thời ông Hiển.
Huy Đức (blog Ôsin)

"Choi so" hoc sinh bo hoc!

"Chơi số" học sinh bỏ học!


Cuối cùng, sự sai lệch về số lượng học sinh bỏ học mà báo Tiền Phong vạch ra, đã được Bộ Giáo dục, trong buổi họp báo ngày 9-4, quy trách nhiệm cho các sở. Ngày 14-3-2008, khi báo chí bày tỏ sự lo ngại về con số 114 nghìn học sinh bỏ học, Bộ Giáo dục đã gửi công văn về các địa phương phê phán báo chí gây “bức xúc không đáng có trong xã hội, (làm) tổn thương tới ngành giáo dục và thầy cô giáo”.

Theo công văn này, thì tỷ lệ học sinh bỏ học không những không tăng “như báo chí nói” mà còn giảm mạnh: “Trước cuộc vận động ‘hai không’, bình quân 1000 em đi học thì có khoảng 60-70 em bỏ học, nhưng, sau một năm, chỉ còn 20 em và trong học kỳ I năm học 2007-2008, bình quân 1000 em đi học chỉ còn 2 em bỏ học”.
Khi chưa thể khẳng định các con số mà Bộ Giáo dục đưa ra là đúng hay sai, đã có nhiều bài báo cho rằng, trong tình hình ấy, cách tốt nhất mà Bộ nên làm là đi tìm nguyên nhân khắc phục, thay vì sử dụng các con số để “pha loãng” một thực tế rất cần được đánh động. Cựu Bộ trưởng Bộ Giáo dục, GS Phạm Minh Hạc nói: “Nếu có ai đó trong ngành Giáo dục cho rằng học sinh bỏ học không phải là chuyện mới, có thể coi (người đó) là vô trách nhiệm”. Một số tờ báo đã nghi ngờ tính chính xác của các con số do Bộ Giáo dục đưa ra. Báo Tiền Phong âm thầm cử phóng viên về các địa phương và kết quả điều tra của tờ báo này cho thấy, số học sinh bỏ học theo báo cáo của các sở, chênh lệch rất nhiều với báo cáo mà Bộ dùng để phê phán báo chí.
Tất cả các địa phương mà phóng viên báo Tiền Phong tới điều tra, dù miền Trung, miền Bắc hay Đồng Bằng Sông Cửu Long, số học sinh bỏ học trên thực tế đều lớn hơn rất nhiều so với con số đưa ra trong báo cáo ngày 14-3 của Bộ. Tại Khánh Hòa, công văn của Bộ Giáo dục nói chỉ có 1.034 em bỏ học, khác xa con số do sở Giáo dục Tỉnh ghi nhận: 14.000 em bỏ học cho tới hết kỳ I. Phó Chủ tịch UBND Tỉnh Khánh Hòa, ông Lê Xuân Thân, nói: “Bộ Giáo dục chưa thẳng thắn”.
Trước sự thật ấy, trong buổi họp báo ngày 9-4-2008, Vụ trưởng Vụ Giáo dục Trung học, Lê Quán Tần, thừa nhận: “con số của chúng ta có vấn đề”; và, ông chủ động giải thích: Sở dĩ có độ vênh giữa các số liệu là do các sở căn cứ vào các mốc thời gian khác nhau để báo cáo. Theo ông Tần, “Các sở phải chịu trách nhiệm” về những con số đó. Tuy số liệu học sinh bỏ học ghi nhận trong báo cáo của Bộ thấp hơn nhiều so với sự thật, Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân, khi trả lời phỏng vấn báo Tiền Phong, cho rằng: “Không thể là (vì) bệnh thành tích”.
Cũng cần nhắc lại, báo cáo ngày 14-3 của Bộ Giáo dục đưa ra sau khi xảy ra vụ bỏ học lên tới hàng trăm em ở huyện Thạch Thành, Thanh Hóa và lý do được xác định là do địa phương này áp dụng khá máy móc “hai không”. Ông Nguyễn Vinh Hiển đã từng thừa nhận: “Có một lý do đáng kể xuất phát từ việc thực hiện cuộc vận động nói không với thành tích”. Nhưng, cũng chính ông Hiển, khi ký công văn ngày 14-3 lại nhấn mạnh yếu tố “trước và sau cuộc vận động hai không” bằng các số liệu mà chúng tôi vừa phân tích. Chưa kể, chính công văn này của Bộ cũng “sử dụng các dữ liệu” theo cách mà ông Lê Quán Tần phê bình các sở: số học sinh bỏ học không đầy đủ trong một học kỳ của năm học 2007-2008 đã được dùng để so sánh với con số cả năm của những năm trước đó.
Tình trạng học sinh bỏ học, như đã nói, do: điều kiện giáo viên, trường lớp; do nghèo khó; do chương trình học quá nhiều tham vọng, tạo ra nhiều áp lực … Và, như phân tích của GS Phạm Minh Hạc: Cuộc vận động “hai không” về bản chất rất tốt, nhưng cách làm chưa ổn. “Phanh” bệnh thành tích một cách quá gấp, khiến cho nhiều học sinh và cả phụ huynh phấp phỏng lo cho tương lai, học tốn kém mà không đỗ. Cho nên, chưa lúc nào như hiện nay, cả phụ huynh cũng đồng thuận cho con mình nghỉ học.
Như vậy, trừ “hai không”, học sinh bỏ học do nhiều nguyên nhân và có những nguyên nhân bắt đầu từ các nhiệm kỳ bộ trưởng khác. Việc khắc phục phải từng bước, bắt đầu bằng các chính sách thận trọng, chứ không thể giải quyết trong một sớm, một chiều. Muốn có các chính sách đúng thì phải biết được các nguyên nhân trên cơ sở có được đầy đủ, chính xác các dữ liệu. Có thể không phải vì “bệnh thành tích” như Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân nói. Cũng có thể “lỗi do các sở” như ý kiến của Vụ trưởng Lê Quán Tần. Điều đáng lo là, ngay cả một vấn đề hệ trọng như học sinh bỏ học, mà hệ thống giáo dục cũng không đưa ra được các dữ liệu đúng. Sự sai lệch giữa con số thực tế và con số do Bộ báo cáo, không chỉ ảnh hưởng tới uy tín, điều đáng lo ngại hơn là, trên một cơ sở dữ liệu thiếu chính xác như vậy, làm sao Bộ có thể đưa ra được các chính sách đúng, hữu hiệu và kịp thời.

Huy Đức (blog Ôsin)

Vang Anh & Vang Anh!

Vàng Anh & Vàng Anh!

Vàng Anh Phan Thị hiện vẫn đang sống trong trạng thái lâng lâng vì được “cụ cố” Hoàng Công Khanh, nhà văn, 80 tuổi, nhìn mà tưởng lầm đấy là cô Vàng Anh Nhật Ký. Số là trước sự kiện tập thơ “Gửi VB” được Hội Văn Nghệ Hà Nội trao giải, cụ Khanh có ý kiến: “Hội Văn nghệ Hà Nội đã rất dũng cảm khi trao giải cho tập thơ Gửi VB. Hội đã biết phân biệt đâu là thơ, đâu là người. Vụ phim sex chỉ là một sự cố đáng tiếc”

Phim sex của Vàng Anh, hẳn, nhiều người đã xem rồi, còn bài viết mà tôi đã đăng từ tháng 10- 2006 này thì chắc các bloggers chưa đọc. Nhân sự kiện “Vàng Anh” vừa được xới lại, theo một tin nhắn nghe nói có xuất xứ từ chính nhà văn Hồ Anh Thái, xin post lại bài viết này dù biết các bạn mà nhìn thấy Vàng Anh bây giờ thì không thể nào nghĩ đấy là Vàng Anh!
Vàng Anh đấy ư?
Mọi người đã quen với một Vàng Anh khác. Một Vàng Anh đã đi qua cái thời khi người ta trẻ. Một Vàng Anh, với con mắt tinh quái, với cái miệng cứ vanh vách xướng lên những ý nghĩ chỉ vừa mới ngọ nguậy trong đầu người ta
Những ai đã đọc những bài tạp văn ký tên Thảo Hảo, đăng trên tờ báo Thể thao Văn hoá, và biết Thảo Hảo không phải là một bà đanh đá nào đó mà chính là cái cô Phan Thị Vàng Anh, thì còn bất ngờ hơn khi đọc tập thơ Gửi VB của chị.
Giờ nằm im và ngửa cổ
cho đầu thõng xuống cạnh giường
đề phòng nước mắt có chảy
chầm chậm
ngược dòng
mà
tuôn.
Vàng Anh đấy ư!
Mấy năm trước, đang sống yên ổn ở Sài Gòn, Vàng Anh đột ngột xách va li ra Hà Nội. Không mấy ai biết chuyện gì xảy ra. Mỗi khi gặp lại, thấy con mắt, cái miệng và giọng điệu của chị vẫn như cũ. Đâu ai nghĩ chị đang "tập làm thơ". Đâu ai biết, trong căn hộ chị thuê ở Hà Nội, "ba năm rồi", "quơ tay", "không-sợ-đụng-nhầm-tay-ai".
Bóng đèn cuối cùng của chung cư đã cháy
Dò dẫm đi lên những cầu thang ướt như bùn chảy
Cái điện thoại cả tối không một tiếng reng
Trong tay làm một ngọn đèn
Loạng choạng
Vàng Anh đấy ư!
Tôi đọc thơ Vàng Anh có chịu ảnh hưởng một chút (có lẽ từ chị) cái nhìn săm soi. Bèn tò mò: VB là ai nhỉ? Đọc bài thơ Gửi VB ở trang 36 thấy Vàng Anh và VB xem ra cũng rất thân thiết. Hai người đã cùng nhau đi đây, đi đó. Nhưng, chỉ khi đến Hà Nội họ mới thực sự bị gió Hồ Gươm "thổi cho xiêu vẹo", như "thú nhận" của Vàng Anh. Dưới bài thơ đề ngày 24.12.2002. Nghĩa là VB cũng không phải là lý do để chị bỏ Sài Gòn ra Hà Nội.
Nhưng VB, tôi đoán, có lẽ cũng đã góp phần khiến cho chị trong những ngày lạnh lẽo ấy, cố nuốt lòng kiêu hãnh Vàng Anh để vừa tự hỏi, vừa thú nhận: "Não đàn bà làm bằng gì mà chỉ nghĩ chuyện tình yêu? /Chụm đầu nghiêm trọng như âm mưu chỉ để bàn về một người đàn ông bé nhỏ?". Vàng Anh, nghe nói, sắp trở lại Sài Gòn. Chị đã từng là một thần đồng, một nhà văn, là một quan chức văn nghệ và đang sắp sửa làm một vai trò quan trọng hơn của phụ nữ.
Theo như bài thơ in ở cuối tập, khi bắt đầu "học làm thơ", Vàng Anh đã định viết sao cho nó bay bướm, cầu kỳ, cho giống những nhà thơ mà chị nói là "tôi ngưỡng mộ". Rất may, như chị tự nhận là "tôi bất tài", tập thơ vì thế chỉ gồm những câu chữ mộc mạc, những hình ảnh rất thật của hai con mèo "vắng mặt không có lý do"; là "tia nắng đúng chín giờ vào lọt khe cửa sắt"; là anh thợ khoá "một giờ sáng còn ăn cơm"; là anh xe ôm, hai giờ- vắng hoe - buồn bã. Lối nói mộc mạc bằng những hình ảnh rất thật ấy té ra lại "tố cáo" rất hữu hiệu một sự thật khác về Vàng Anh, một sự thật khác trong cô đơn thẳm sâu của một người đàn bà.
Cám ơn VB và cám ơn cái lý do "vớ vẩn" nào đó làm cho Vàng Anh xồng xộc chạy ra Hà Nội, rồi để chị một mình lạnh lẽo, để chị có tập thơ này.


Huy Đức (blog Ôsin)

Dua con nuoi cua Vicky

Đứa con nuôi của Vicky
Đến Washington, DC, tôi được Vicky, một phụ nữ xinh đẹp đón ở sân bay. Mỗi thành viên cùng nhận học bổng như tôi đến từ một nước khác nhau và đều có một người tình nguyện như thế. Nhưng, Vicky chọn tôi vì chị có một cô con gái nuôi Việt Nam, chị muốn con gái chị có nhiều cơ hội hơn để tiếp xúc với người Việt.
Vicky nhận bé Annie Jewel tại một trại trẻ mồ côi ở Miền Bắc. Trại nói rằng, mẹ Annie Jewel là một cô gái Mường ở Hoà Bình. Cô gái yêu một chàng sinh viên đang học ở Thủ Đô, nơi, cô cũng ước mơ sẽ vào được một trường đại học ở đó. Đứa con được sinh ra khi cả hai đều chưa đủ khả năng để gây dựng một gia đình… Họ đặt tên cho bé là Bùi Thị Tuyết. “Báu vật” mà cha mẹ đẻ để lại cho Tuyết là một bộ đồ rất đẹp màu cam. Bộ đồ không hiểu sao được may rộng hơn những gì cho một trẻ 3 tháng tuổi. Có lẽ nhờ thế mà năm 3 tuổi, khi bắt đầu thích đồ đẹp, Tuyết mới mặc vừa. Mẹ nuôi Vicky nói: “Đây là quà của mẹ Tâm, người đã sinh ra con”.
Khi đã xong giấy tờ để làm mẹ, Vicky bế con lên Hoà Bình, chị ngắm những mảnh ruộng nhỏ bên lưng núi, nhìn thật kỹ những ngôi nhà gỗ. Chị muốn trong câu chuyện rồi chị sẽ kể cho con, có những hình ảnh giúp Tuyết-Annie Jewel hình dung ra nơi chôn rau cắt rốn của cháu. Lên 5 tuổi, Annie Jewel được gửi tới một trong những nơi nuôi dạy trẻ tốt nhất ở khu vực Washington. Nhưng điều mà Vicky hài lòng nhất là càng lớn, Tuyết-Annie Jewel càng ý thức được cháu là người Việt. Mỗi khi xuống phố hay đi bộ trong khuôn viên của trường, Tuyết vẫn hay thì thầm vào tai mẹ: “Mom, nhìn kìa, các bạn người Châu Á”. Rồi bé hỏi: “Mẹ có nghĩ rằng trong đó có vài bạn là người Việt Nam không?”
Năm gần 40 tuổi, Vicky ao ước có một đứa con. Những người bạn trai từng sống chung không đưa lại cho chị niềm hạnh phúc đó. Chị quyết định tìm một đứa bé để nuôi. Các cơ sở tư vấn giới thiệu cho chị cả những đứa trẻ Trung Quốc, nhưng chị chọn Việt Nam. Vicky thuộc thế hệ những đứa trẻ Mỹ lớn lên khi mà ở ngoài đường là những cuộc phản đối chiến tranh, còn trong phòng khách, tivi và người lớn gần như không còn chuyện gì quan trọng hơn là chuyện Việt Nam để bàn đến. Vicky nói: “Tôi biết lịch sử thường rất phức tạp để hiểu, nhưng, điều đơn giản mà tôi cảm thấy là chúng tôi sai khi đã gây ra ở đó biết bao đau thương”. Nuôi một đứa con người Việt, Vicky nói: “Khiến cho tôi nghĩ rằng mình đã nuôi dưỡng một sợi dây liên hệ giữa hai nước, sự liên hệ không phải từng có trong quá khứ: chiến tranh”. Khi làm thủ tục nhận Tuyết làm con nuôi, những người ở trại trẻ mồ côi nhìn Vicky và nói rằng: “Con bé này thật may mắn”. Nhưng rồi càng ngày, Vicky nghĩ, người thực sự may mắn là chị.
Tháng 8 năm ngoái, Vicky đưa con đi dự Trại Hè Văn Hoá Việt, trại do những người Mỹ có con nuôi Việt Nam tổ chức. Các cháu gái mặc áo dài, các cháu trai đội khăn đóng, những anh chị sinh viên người Việt tình nguyện giúp các cháu chơi những trò chơi Việt Nam. Trong khi, cha mẹ chúng dự những cuộc nói chuyện về lịch sử, văn hoá Việt. Tại nơi nói chuyện về lịch sử bang giao Việt-Mỹ, những bậc cha mẹ người Mỹ đã rất bất ngờ khi người diễn thuyết, một phụ nữ người Việt trẻ, đã chỉ trích chính phủ Việt Nam rất nhiều và phê phán chính phủ Hoa Kỳ đã bình thường hoá quan hệ. Những người Mỹ này đã phản đối diễn giả, họ nói: “Chính Hà Nội đã giúp đỡ để chúng tôi có những đứa trẻ này. Nếu không có mối quan hệ bình thường đó làm sao có gia đình chúng tôi?” Rồi chính những người Mỹ đã huỷ nửa chừng cuộc nói chuyện đó. Diễn giả hôm đó là một một thuyền nhân đến Mỹ khi còn là một đứa trẻ. Vicky đọc nhiều sách và chơi với nhiều người Việt có cùng hoàn cảnh, chị biết câu chuyện của họ. Nhưng Vicky biết, nhiều người trong số họ đã chưa trở lại Việt Nam trong gần ba chục năm qua. Họ có thể không có cùng sự chia sẻ như những người Mỹ vừa đến đó, chứng kiến một Việt Nam hoàn toàn khác. Những ông bố, bà mẹ có con nuôi Việt Nam sau hôm ấy trở nên băn khoăn nhiều hơn, liệu những đứa trẻ mà họ đang nuôi nấng này có làm được sợi dây nối lại những điều đã bị chiến tranh chia cắt như họ muốn khi mà giữa những người Việt với nhau vẫn còn mang những kỷ niệm cay đắng này?
Ở nhà Vicky có rất nhiều sách Việt Nam, một trong những cuốn sách đấy là tuyển tập những truyện ngắn về chiến tranh do Wayne Karlin dịch cùng với chị Phan thanh Hảo. Wayne vốn là một cựu binh ở Việt Nam, anh đang dạy ở một trường đại học cộng đồng ở vùng đông nam Maryland. Hai người bạn rất thân của Wayne ở đấy là hai người Việt đến Mỹ từ những năm 50. Nhà anh giờ đây gần như trở thành một trong những điểm thăm viếng thường xuyên nhất của những nhà văn, nghệ sỹ đến từ Việt Nam theo chương trình của trung tâm Williams Joiner, một trung tâm chú trọng vào những hoạt động mang tính giao lưu văn hoá Mỹ-Việt và hoà giải.
Vicky muốn gặp Wayne Karlin để chia sẻ những điều băn khoăn của cô. Tôi đã nhờ chị Phan Thanh Hảo, từ Hà Nội, tổ chức cuộc gặp cho hai người Mỹ sống cách nhau chỉ một giờ đi xe này. Hôm gặp nhau, họ đã nói chuyện với nhau từ giữa trưa cho tới khi trời tối. Những cuốn sách đầu tiên của Wayne Karlin là về Việt Nam, nhưng từ nhiều năm nay, anh lại nói nhiều hơn về cuôc nội chiến Mỹ xảy ra trong những năm đầu 60 của thế kỷ thứ 19. Ngôi nhà của Wayne Karlin nằm ở nơi chịu ảnh hưởng nhiều nhất trong cuộc chiến tranh này.
Năm 1865, khi cuộc nội chiến Mỹ đi đến hồi kết thúc, các sĩ quan trong Bộ Tham mưu của miền Nam đề nghị rút lui vào rừng để chiến tranh du kích, nhưng chỉ huy lực lương miền Nam là tướng Lee bác bỏ. Ông, vị tướng lừng danh từng chỉ huy Học viện quân sự Westpoint, quyết định đầu hàng để chấm dứt cảnh huynh đệ tương tàn. Tướng Lee viết thư gửi chỉ huy quân Miền Bắc là tướng Grant. Lịch sử kể rằng, tướng Grant đã ra lệnh cho ba quân thổi kèn đón tiếp tướng Lee như một người hùng. Và, điều mà tướng Lee thoả thuận hôm đó với tướng Grant là để cho binh lính Miền Nam được đưa lừa ngựa mà họ đã mang từ nhà đi tham chiến, quay về cày hái như trước.
Cách ứng xử của hai vị tướng từng là bạn và từng là cựu thù này được ca ngợi như là một biểu tượng của sự hàn gắn. Và, vị Tổng thống lúc ấy, Abraham Lincoln, đã chủ trương sẽ không có trừng phạt những người thua trận. Ông nói: “Từ nay, các bạn là anh em, chúng ta không còn là kẻ thù của nhau nữa”. Nhưng, chỉ hai ngày sau, Tổng thống Lincoln bị ám sát. Người kế nhiệm ông là Tổng thống Andrew Johnson lại dùng không ít chính sách trừng phạt Miền Nam và điều đó đã làm cho vết thương chia cắt phải mất nhiều chục năm để hàn gắn và làm cho sự kỳ thị người da đen ở các bang miền Nam đã tồn tại dẳng dai hơn miền Bắc. Wayne Karlin nói: “Cạnh nhà tôi đây, xưa là một trại tù binh chiến tranh, hàng ngàn người đã chết ở đó vì đói và bệnh tật. Nhưng phải 65 năm sau, chính phủ mới cho xây một đài tưởng niệm họ”. Wayne gọi cách ứng xử đó là một lỗi lầm.
Khi tham chiến ở Việt Nam, Wayne nói: “Phần lớn những phi vụ trực thăng của tôi là tải thương và cứu nạn, nhưng tôi vẫn cảm thấy bị cắn rứt rất nhiều”. Wayne Karlin đã viết vì anh nghĩ đó là cách tốt nhất để thấy mình thanh thản hơn. Và, theo anh, được viết ra những sự thật phức tạp và những suy nghĩ, cách nhìn từ các bên cũng là cách tốt nhất để hàn gắn những vết thương gây ra bởi cuộc chiến. Wayne Karlin đã và đang làm nhiều việc để giúp đỡ những người bạn Việt, nhưng cũng như Vicky, Wayne nhận ra, chính anh chứ không phải những người bạn Việt mới là người may mắn. Wayne vừa mới đón đạo diễn Đặng Nhật Minh tới thăm tháng trước. Và, Vicky thì đang có ý định trở lại Việt Nam để tìm thêm cho Tuyết-Annie Jewel một “người anh em”, chị cũng muốn liên lạc với cha mẹ ruột của Tuyết, chị muốn con gái chị biết rõ hơn về nguồn gốc của mình và chị muốn sợi dây liên hệ với Việt Nam được củng cố trên nền tảng của mối quan hệ gia đình.
Có hàng triệu lượt người Mỹ đã tham gia chiến tranh Việt Nam, hàng chục triệu người Mỹ khác biết tới Việt Nam nhờ theo dõi cuộc chiến qua truyền thông và tham gia các cuộc biểu tình. Hơn một triệu rưỡi người Việt đã tới định cư ở Mỹ từ hơn 30 năm nay. Không phải quốc gia nào cũng có một sự liên hệ lớn lao và “bằng xương, bằng thịt” như vậy. Điều gì sẽ xảy ra, nếu các bên hoà giải thực sự, điều gì sẽ xảy ra nếu như, có thêm nhiều người như Wayne, như Vicky? “Chiến tranh là một một điều xấu”, Wayne nói, nhưng chiến tranh thì đã qua, “Hãy làm nãy nở những điều tốt từ đó”.

Huy Đức (blog Ôsin)

Vu LeHoang & NguyenCongKhe (1)

Tiễn đưa Tổng biên tập!
Chưa chắc chắn ai sẽ làm tổng biên tập hai tờ báo chính trị có độc giả lớn nhất nước: Tuổi Trẻ, Thanh Niên. Nhưng, cả ông Lê Hoàng và Nguyễn Công Khế đều phải hoàn tất việc bàn giao trước ngày 31-12. Ông Đặng Thanh Tịnh, phó tổng biên tập (TBT) tờ Thanh Niên và ông Bảy Sơn (Vũ Văn Bình), phó TBT tờ Tuổi Trẻ, sẽ là phó TBT phụ trách hai tờ báo này trong khi chờ nhân sự mới. Như vậy, hiện thời ở Thanh Niên và Tuổi Trẻ không có một phó TBT phụ trách nội dung nào được trên tin cậy.

Cùng phụ trách trị sự như ông Bảy Sơn, nhưng ông Tịnh thực sự là một nhà báo. Bao nhiêu năm qua, ông giấu mình phía sau nên ít ai biết, ở Thanh Niên, ông là người bản lĩnh và am hiểu trên nhiều lĩnh vực. Nếu như, ông Tịnh tham dự vào nội dung nhiều, Thanh Niên sẽ là một tờ báo tử tế.
Ông Bảy Sơn được ông Lê Văn Nuôi đưa từ Thành Đoàn về báo Tuổi Trẻ đã hơn 10 năm, nhưng sẽ là quá sức nếu bây giờ bắt ông phải quyết định bài nào đăng, bài nào gác. Hình ảnh ấn tượng nhất mà tôi nhớ về Bảy Sơn khi ông mới làm Chánh Văn phòng là một người đàn ông ngồi trước một cái laptop hiện đại nhất Tuổi Trẻ, cắm cúi chơi game, nhưng vẫn giữ mặt nghiêm trọng như là đang làm việc. Có lẽ Bảy Sơn sẽ cảm thấy yên ổn hơn nhiều nếu cứ để cho ông tiếp tục đi ký hợp đồng mua giấy.
Chắc chắn có rất nhiều trắc ẩn trong lòng Lê Hoàng, 5 năm trước, ông đã miễn cưỡng khi bị điều từ NXB Trẻ về thay Lê Văn Nuôi. Ông đang được mọi người ở NXB Trẻ yêu mến và bản tính ông cũng không muốn “xông pha lửa đạn”. Tất nhiên, ông biết, dù ngạch trật hành chính ngang nhau, làm TBT Tuổi Trẻ là “lên” so với khi làm Giám đốc NXB Trẻ.
Nếu như, trước đây, ông Lê Văn Nuôi chủ yếu “trị” Tuổi Trẻ bằng cách “tọa sơn quan…” Vĩnh- Phước. Thì Lê Hoàng áp dụng nguyên tắc đồng thuận trong Ban Biên tập. Nguyên tắc này, đôi khi khiến ông gặp khó khăn, vì nhiều ý kiến của ông gặp phải sự bất đồng của một số thành viên, đặc biệt là Quang Vĩnh, một người rất kinh nghiệm tạo ra bất ổn. Cũng không may, ông làm Tuổi Trẻ ở thời điểm mà cơ quan chủ quản đánh giá được tiềm lực kinh tế của tờ báo cũng như của các cơ quan khác như NXB Trẻ, nhà in Lê Quang Lộc… nên đã can thiệp rất sâu. Bản tính mềm mỏng của ông đã không đủ cương quyết để cưỡng lại những can thiệp thô bạo. Và, một vài thành viên trong tờ báo đã khai thác điểm yếu đó để thách thức uy tín ông. Chỉ từ khi, đưa được Quang Vĩnh ra khỏi Tuổi Trẻ, ông Lê Hoàng mới có đủ điều kiện để gây ảnh hưởng lên tờ báo. Nhưng, nhanh quá!
Tuy không xuất thân từ một nhà báo chuyên nghiệp, Lê Hoàng ý thức rất rõ vai trò công luận của một tờ như Tuổi Trẻ và sứ mạng thông tin không thể tránh được của một người làm báo. Ông không thể không đăng những bài viết trong vụ PMU 18. Và đặc biệt gần đây, ông được đánh giá cao khi, đúng ngày Thủ tướng ra trước Quốc hội, cho đăng tin phiên tòa ở Nhật xử vụ PCI có nêu đích danh Huỳnh Ngọc Sỹ (tờ Thanh Niên hôm ấy không đăng). Cho dù ông biết đăng tin này là “đụng”. Khi phóng viên Nguyễn Văn Hải bị bắt, không tìm cho mình một thế “ngoại phạm”, ông trực tiếp ký duyệt tất cả những bài báo gai góc liên quan tới vụ này. Trong những lúc khó khăn nhất, ông luôn có mặt bên Nguyễn Văn Hải. Đặc biệt, giới quan sát, rất cảm kích khi thấy Lê Hoàng đã giữ được tư cách một nhà báo khi trong suốt thời gian chiếc ghế của ông bị lung lay, ông đã không hề “chạy chọt”. Hiện ông Hoàng cũng tỏ ra thanh thản khi được lệnh bàn giao. Có lẽ, nếu như ngay sau khi kết thúc phiên tòa xử hai nhà báo, Lê Hoàng tuyên bố từ chức thì ông đã có được một sự ra đi trọn vẹn.
Tôi không có ý định viết về ông Nguyễn Công Khế trong entry này. Và, vẫn đang rất cân nhắc khi đưa ra bài viết về ông tướng Nguyễn Việt Thành. Nếu những khuất tất trong vụ Năm Cam được phân tích, thì chúng ta sẽ thấy phương thức sử dụng báo chí “làm án” mà tướng Quắc sử dụng trong vụ PMU vẫn chưa đáng là học trò so với những gì mà tướng Thành đã làm trước đó.
Huy Đức (blog Ôsin)