8 thg 1, 2009

Bo truong oi!

“Bộ trưởng ơi,
hãy ở lại với giáo dục!”

Thông tin nói ông Nguyễn Thiện Nhân sẽ lên làm Phó Thủ tướng đã được bàn luận trên chính tờ báo mạng Edu.net của Bộ Giáo dục suốt từ ngày 11-7-2007. Có vài ý kiến đề nghị: “Bộ trưởng ơi, hãy ở lại với Giáo dục”. Ngày 14-7-2007, tờ báo mạng của bộ, Edu.net, cho biết: “Bạn yên tâm, bộ trưởng (sẽ) trở thành phó thủ tướng nhưng vẫn kiêm Bộ trưởng Bộ Giáo dục”.

Ông Nguyễn Thiện Nhân nhận chức Bộ trưởng Bộ Giáo dục mới được vừa đúng một năm. Trong một năm đó, có thể nói, ông là nhân vật được chú ý và đích thân tạo ra nhiều sự kiện nhất trong hàng các vị bộ trưởng. Ngay sau khi chức Bộ trưởng của ông Nhân được Quốc hội phê chuẩn, báo Tuổi Trẻ đã cho đăng bức thư của “một người dân” ở Đà Nẵng tên là Quỳnh Anh. Bức thư nêu khá chính xác các căn bệnh của nền giáo dục và bày tỏ sự kỳ vọng vào “tân Bộ trưởng”. Ông Nhân trả lời với cam kết: “10 năm tới, giáo dục Việt Nam sẽ khác”. Có khá nhiều thư sau đó, tuyên bố: “Chúng tôi tin ông”.
“Bệnh thành tích” và “tiêu cực” là hai thứ mà ông Nguyễn Thiện Nhân tuyên bố “nói không”. Ông mở đầu chuyến đi cơ sở với tư cách là một bộ trưởng của mình ở Hà Tây và đích thân đến thăm nhà thầy giáo Đỗ Việt Khoa, người lúc đó rất nổi tiếng vì đã dũng cảm đưa ra nhiều bằng chứng tố cáo nạn gian lận trong thi cử. Vợ thầy Khoa đã khóc vì xúc động; bởi, theo báo chí, lúc đó “do lo sợ trước những lời đe doạ, thầy Khoa đã đưa 2 con đi sơ tán”.
Không chờ tới 10 năm, ông Nguyễn Thiện Nhân đã tạo ra sự khác biệt về mặt “thành tích” cho ngành giáo dục ngay sau khi nhậm chức chưa đầy 1 năm. Kỳ thi tốt nghiệp phổ thông năm 2007 đã được ông tổ chức, tuy rất tốn kém, nhưng rõ ràng là nghiêm túc. Kết quả, chỉ có 67,5% học sinh đậu tốt nghiệp phổ thông trong lần thi đầu tiên. Có những địa phương năm trước có tỉ lệ tốt nghiệp phổ thông 98%, năm nay chỉ đạt 44,57% như Nghệ An; 57,1% như Hà Tây. Có địa phương như Tuyên Quang, năm nay chỉ có 14,3% học sinh phổ thông đậu tốt nghiệp.
Dư luận tin rằng, kết quả thi cử đó phản ánh “đúng thực tế”. Ông Bộ trưởng đã “lượng hoá” được tình trạng xuống cấp của nền giáo dục. Vực dậy một nền giáo dục đã xuống cấp không phải là việc có thể thực hiện một sớm một chiều. Tuy nhiên, bước khởi đầu là hết sức quan trọng. Ông Nhân đã không bắt đầu sự nghiệp “10 năm” của mình bằng việc thay đổi chương trình và phương pháp giảng dạy. Trong khi dạy vẫn như thế, học vẫn như thế, mà thi cử khắt khe hơn thì con số học sinh thi rớt lên tới 417 nghìn cả hai hệ: bổ túc và phổ thông là điều không có gì ngạc nhiên.
Có thể ông Nhân lựa chọn bước đi như vậy là bởi ngay từ đầu ông đã quy lỗi cho phụ huynh. Khi nghe nói có hai cháu học tới lớp 6 mà không biết đọc biết viết, ông Nhân đã ngay lập tức cho rằng: “Trước hết do sự thiếu quan tâm của gia đình, vì lẽ, học đến lớp 5 mà cháu vẫn chưa biết đọc thì gia đình phải đến cự nự với trường chứ”. Ông Nhân cũng “buộc” các bậc phụ huynh phải cùng chịu trách nhiệm về bệnh thành tích trong ngành giáo dục. Lấy tư cách là một “giáo sư kinh tế học”, ông cho rằng nếu không có “cầu” thì sẽ không có “cung”. Ông viết: Phụ huynh mà không muốn con em mình có điểm cao (hơn thực chất), sẵn sàng bồi dưỡng các thầy cô thì bệnh thành tích đâu có ở quy mô lớn và bền vững như vậy.
Ông Nhân phân tích “kinh tế” theo cách như thế có lẽ vì, ông vốn chỉ được đào tạo về điều khiển tên lửa (ông có bằng tiến sỹ điều khiển học). Ông chỉ học thêm về kinh tế thị trường tại một trường đại học của Tây Đức khi làm tuỳ viên giáo dục ở Đông Đức, 1988-1991, trong thời gian đó, bức tường Berlin sụp đổ. Thật “không ổn cả về khoa học kinh tế lẫn chính trị” khi nói với phụ huynh như vậy. Ngay trên diễn đàn Edu.net, các nhà giáo dục đã gọi cách nói của Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân là “đổ lỗi cho nạn nhân”. Không có vị phụ huynh nào muốn phải “chạy chọt”. Gần nửa triệu học sinh không tốt nghiệp là kết quả của một nền giáo dục không đạt chuẩn “phổ thông”. Không ai phải trả đủ thứ tiền học cho con để thấy con em mình thi trượt.
Trong thư “gửi phụ huynh” Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân đã gọi đúng tên căn bệnh giáo dục hiện nay: “nền giáo dục học thuộc lòng”. Nhưng, ông lại định “theo kinh nghiệm Singapore” để tin rằng có thể chuyển đổi nền giáo dục ấy bằng phương pháp “then chốt và quan trọng nhất là thay đổi cách ra đề thi”. Muốn thay đổi nền giáo dục “thuộc lòng” ấy phải từ triết lý: giáo dục tạo ra những sản phẩm biết tư duy độc lập, sáng tạo hay tạo ra những sản phẩm giáo dục chỉ biết vâng lời chứ không thể từ các kỳ thi mà được.
Chưa có một nền giáo dục nào mà học sinh phải chịu áp lực từ các kỳ thi như Việt Nam. Hàng triệu gia đình đã phải vất vả đưa con cái vào Nam ra Bắc thi đại học sau các kỳ thi tốt nghiệp, chuyển cấp. Chưa kể sự tốn kém, số phận của học sinh chịu rất nhiều rủi ro, vì các kỳ thi chỉ dồn vào một vài ngày trong năm. Nếu trong ngày thi cử đó, mà các em không may bị ốm, không may lần đầu tiên ra phố lạc đường, là coi như phải chờ đúng một năm sau mới có cơ hội làm lại. Trong khi ở các nền giáo dục tiên tiến, mà Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân đã từng được đào tạo, chỉ có những em có ý định học lên đại học mới phải trải qua một kỳ thi. Kỳ thi này được tổ chức thường xuyên, học sinh có thể chọn bất cứ thời điểm nào mà các em cảm thấy thoải mái nhất để thi. Điểm thi sẽ trở thành một trong những căn cứ để các em có thể được chọn vào một trường đại học trung bình hay nổi tiếng.
Chương trình hành động ấn tượng nhất của Bộ trửơng Nguyễn Thiện Nhân trong năm qua là “chống bệnh thành tích”, khoa trương. Nhưng, những hoạt động trong giai đoạn đầu của ông lại rất rầm rộ. Đặc biệt trong lá thư nói về “nỗi đau” của ông trong ngày 20-11, ông chủ yếu liệt kê hàng loạt “thành tích” của chính mình: chủ trì họp cơ quan trong ngày chủ nhật; về Vinh vào buổi tối; hối hả lên Con Cuông trong ngày thứ 7; gặp các nhà giáo lão thành… Và đặc biệt chương trình tham vọng nhất của ông lại là một chương trình được cho là mang nhiều “màu sắc phong trào”, rất “kế hoạch hoá tập trung” và nặng tính hình thức: chương trình đào tạo 20.000 tiến sỹ và 600 trường đại học.
Việt Nam không thiếu một con số tiến sỹ cụ thể nào đó, Việt Nam đang thiếu những vị tiến sỹ có khả năng độc lập nghiên cứu và có thể cống hiến những công trình khoa học. Không chỉ có những học sinh học thuộc lòng, không chỉ có những bài thi phổ thông copy y nguyên văn mẫu, đã từng có cả một vị hiệu trưởng đại học sư phạm bị tố cáo “đạo văn” khi làm tiến sỹ. Muốn tạo ra sự chuyển động thật sự, phải xoá bỏ triệt để bao cấp trong giáo dục đại học, xoá bỏ cơ chế chủ quản. Đại học phải được tự chủ, được chịu trách nhiệm về uy tín thương hiệu của mình. Phải mở cửa thực sự cho các thành phần xã hội tham gia vào lĩnh vực giáo dục.
Muốn làm được điều đó, cần có một ông Bộ trưởng chịu đựng được sự đụng chạm. Nếu các trường có được vai trò tự chủ, xã hội được năng động sáng tạo thì quyền lợi của các quan chức trong bộ sẽ giảm đi. Trong kỳ họp cuối năm ngoái, khi bị Quốc hội chất vấn về chất lượng đào tạo đại học tại chức, ông Nguyễn Thiện Nhân đã phân trần, tại chức đang là “nồi cơm” của các thầy cô. Dư luận hiểu, uy tín và chất lượng của giáo dục đã chưa vượt qua sức ép “nồi cơm” của ngành được. Dư luận càng hiểu hơn vì sao ông Nguyễn Thiện Nhân đã không thể quyết định phá bỏ sự độc quyền một cách vô lý của nhà xuất bản Giáo Dục trong lĩnh vực in ấn sách giáo khoa.
Có thể những gì mà Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân đang phải trải qua cũng rất vất vả. Khi vừa nhậm chức ít ngày, người ta thấy ông xuất hiện một cách mạnh mẽ, như là một chỗ dựa hết sức vững chãi bên cạnh thầy Khoa. Để rồi, về sau, khi biểu tượng “chống tiêu cực” Đỗ Việt Khoa có dấu hiệu bị trù dập, người ta lại thấy ông im lặng. Ông đã từng xuống tận cơ sở trong vụ một ông giáo ở một trường cao đẳng “đổi điểm gạ tình”; đã về tận Vĩnh Long và lên tiếng khi một em học sinh hack vào trang web của Bộ thay hình ông. Nhưng, dạo tháng Tư vừa qua, khi một em học sinh lớp 5 bị nhà trường đưa đi hỏi cung đến mức phải vào bệnh viện tâm thần thì không thấy ông đâu cả.
Ông Nhân là con trai của một trí thức tên tuổi, Giáo sư bác sỹ Nguyễn Thiện Thành. GS Thành tốt nghiệp bác sỹ tại Pháp, ông là người đã tìm ra nhiều giải pháp hữu hiệu để trị liệu vết thương cho bộ đội thời chiến tranh. Ông nguyên là giám đốc bệnh viện Thống Nhất, bệnh viện chuyên điều trị cho các nhà lãnh đạo cao cấp. Ông Nguyễn Thiện Nhân được đưa đi đào tạo ở Cộng hoà Dân chủ Đức ngay sau khi gia nhập quân đội và tốt nghiệp tiến sỹ điều khiển học. Từ tháng 6 năm 1993 đến tháng 8 năm 1995 ông nhận được học bổng của Chính phủ Mỹ đi học cao học về tài chính công tại đại học Oregon và sau đó tu nghiệp về thẩm định dự án đầu tư tại đại học Harvard.
Thời gian đứng đầu một cơ quan của ông Nguyễn Thiện Nhân thường không đủ dài để mọi người có thể hiểu biết một cách đầy đủ những đóng góp của ông. Chỉ hơn hai năm làm Giám đốc sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường ông đã được đưa lên làm Phó chủ tịch UBND TP HCM. Có thể, chỉ mới một năm làm Bộ trưởng, ông Nguyễn Thiện Nhân chưa kịp thể hiện tư duy chiến lược của mình, như các bậc phụ huynh kỳ vọng, để tác động một cách mạnh mẽ hơn vào nền giáo dục. Nhưng, ông Nhân là một trong không nhiều những nhà lãnh đạo được đào tạo một cách căn bản. Ông có thể sử dụng lưu loát hai ngoại ngữ. Và, dù với cương vị nào ông cũng đã chứng tỏ một cách ấn tượng tính năng động của một cán bộ đã từng làm công tác đoàn.
Huy Đức (blog Ôsin)

Bac Nhan & nhung bi mat khong nen tiet lo!

Bác Nhân
& những bí mật không nên tiết lộ!

Câu chuyện con chó được một phụ huynh ở Bắc Giang mang đến nộp thầy, khi nhà trường yêu cầu đóng học phí, đã được Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đưa vào lá thư, viết một cách gay gắt, yêu cầu “xử lý” phóng viên của báo Sài Gòn Giải Phóng (SGGP). Sau khi chấm xuống dòng đoạn nói về “con chó” này, ông Nhân cảm thán: “Nghèo đến vậy đó, đau lòng vậy đó!”

Ông Nhân kể câu chuyện đó, để khẳng định, một người thấu hiểu nỗi đau của nhân dân như ông, không thể phát biểu cái câu mà báo SGGP trích dẫn: “Học phí chắc chắn sẽ phải tăng, có thể chấp nhận cả việc số người đi học sẽ giảm vì tăng học phí”. Ông Nhân cho rằng, báo SGGP đã “Gán cho tôi phát biểu một quan điểm, một câu nói mà tôi không hề nói”. Rồi ông yêu cầu người viết bài cung cấp “tư liệu thật”!
Báo SGGP, may thay, vẫn giữ được tư liệu thật. Ngay sau khi bức thư của ông được đăng trên Vietnamnet. Phóng viên Đinh Lan của báo SGGP tại Hà Nội đã cho ông Nguyễn Thiện Nhân nghe lại đoạn băng ghi âm lời phát biểu của ông, nguyên văn: “Giải pháp (mà) để giúp các trường bớt áp lực về tài chính lúc này là vấn đề tăng học phí. Tôi nói rồi, nếu học phí mà tăng nhiều hơn thì mình có thể phải chấp nhận làm giảm số lượng người đi học để đảm bảo chấp lượng”.
Cũng cần phải nói lại cho rõ, “học phí” mà ông Nguyễn Thiện Nhân nói ở đây có thể không phải là học phí phổ thông, vì ông đề cập tới nó sau khi ông nói về giáo dục đại học. Bài viết của chị Mai Lan, một trong những nhà báo viết về giáo dục có uy tín nhất, trên SGGP, cũng chủ yếu nói về giáo dục đại học. Tuy nhiên có thể chia sẻ với ông Nhân rằng, tuyên bố đó có thể khiến dư luận nghĩ, ông đang định tăng học phí đối với cả học sinh phổ thông nữa.
Tôi sẽ dành cho bạn comment quan điểm của ông Nhân: Tăng học phí (cho dù là học phí đại học) sẽ bớt được những người học hành không chất lượng. Bài viết này, tôi muốn nói về một vấn đề khác.
Thực ra, chuyện tăng học phí, kể cả bậc phổ thông đang được rục rịch chuẩn bị. Những nhà báo quan sát mảng giáo dục đều thấy rõ điều này. Nếu như, nhận thấy tuyên bố của mình là không đúng thời điểm hoặc bị “gõ đầu” như nhận định của Gã Thợ Cày, ông Nhân có thể bình tĩnh yêu cầu các báo tạo cho ông một cơ hội để nói rõ hơn quan điểm của mình về học phí.
Nhưng ông Nhân là người có quyền. Ông Nhân không cư xử như vậy. Bức thư gửi báo SGGP nhắc ta nhớ lại hình ảnh của một ông Bộ trưởng chưa có thói quen ứng xử độ lượng trong lá thư nói về vụ hacker Bùi Minh Trí ở Vĩnh Long. Cũng có thể, nếu không phải là Phó Thủ tướng phụ trách báo chí, ông Nguyễn Thiện Nhân đã không quá tự tin khi mắng phủ đầu báo SGGP như thế.
Nhưng, ông Dương Trọng Dật đã bước sang tuổi 61, chắc ông Dật không thể làm Tổng Biên Tập cho đến khi (biết đâu) ông Nhân trở lại Sài Gòn! Nếu sợ uy quyền Phó Thủ tướng, để đính chính một điều mà phóng viên không sai, thì những ngày hưu trí của ông Dật đâu còn ai tới thăm. Rồi, mai mốt, khi “nắm” khoa báo chí đại học Văn Lang, ông Dật biết dạy ra sao với lớp trẻ! Ông Dật cũng có thể cho công bố băng ghi âm, “xử trảm” uy tín Nguyễn Thiện Nhân. Tất nhiên, chúng ta không thể hy vọng vào điều đó. Theo tin mà chúng tôi nhận được, SGGP vẫn đang mềm mỏng dành cho ông Nhân cả weekend để chuẩn bị một bài phỏng vấn. Nhưng, có rất ít hy vọng, trong bài phỏng vấn này, ông Nhân sẽ ứng xử với SGGP như là với một cơ quan báo chí, chứ không phải như là một thuộc cấp!
Thực ra khi nhận chức Bộ trưởng Bộ Giáo dục, ông Nhân đã nhận được sự ủng hộ rất thật lòng từ báo chí. Đâu phải lúc nào cũng kiếm được một ông Bộ trưởng, có bằng tiến sỹ thật và biết nói tiếng Anh. Tuy nhiên, thời gian qua, những gì ông Nhân làm chỉ là công việc của một Chánh Thanh tra Bộ. Ông đánh rớt nhiều học trò hơn trong một kỳ thi, ông không cho các em quay cóp. Những công việc ấy suy cho kỹ, cũng như một cuộc thi nhảy cao. Đợt thi đầu ông để sào nhích lên, chỉ có 67% vượt được; đợt thi sau, sào mềm mỏng; số học sinh tốt nghiệp tổng cộng, cũng lên tới 80%. Tuy nhiên, cái mà nền giáo dục cần là làm sao sào vẫn được giữ ở độ cao ổn định mà số học sinh có khả năng vượt được đông hơn, thì ông vẫn chưa làm được.
Sau hơn một năm làm Bộ trưởng, những tuyên bố của ông Nhân ấn tượng hơn rất nhiều so với việc ông làm. Có lẽ, bản thân ông cũng không nhớ hết những điều ông đã nói, nên khi công chúng phản ứng với chuyện tăng học phí, ông lập tức đồng cảm với nhân dân. Không nhớ, ý tưởng đó phát ra từ Nguyễn Thiện Nhân chứ không phải từ ai đó! Ông Nhân cũng thích viết. Có lẽ, ông vẫn tự tay viết lấy các lá thư của mình. Nếu ông chịu tham khảo và biết lắng nghe, dù chỉ là một người bình thường, chắc chắn, những lá thư như vừa qua đã không thể lọt ra công luận.
Có lẽ ông Nhân biết, nhà báo viết bài trên báo SGGP là Mai Lan, người không có mặt trong cuộc họp báo ở Hà Nội. Nên ông nghĩ, Mai Lan không thể có băng ghi âm. Có thể ông Nhân không biết, “bọn nhà báo” bây giờ còn chơi blog, chúng nó lập tức cung cấp cho Mai Lan những “tư liệu thật” để làm bằng. Chưa kể, Bố Cu Hưng còn đưa hẳn đoạn băng ghi lời ông lên blog.
Tuyên bố của ông: “Tôi, Nguyễn Thiện Nhân, không thể là người thiếu lý trí và lương tâm tới mức phát biểu như báo (SGGP) đã trích dẫn”, giờ đây cũng giống như một lời tự thú. Ông, đương nhiên, con đường phát triển còn dài. Để giữ uy tín làm việc, “lý trí và lương tâm” của ông, đáng lẽ phải được coi là quốc gia bí mật. Vietnamnet và anh Đức Hiển thật mất cảnh giác, khi cho đăng bức thư rồi lại công bố đoạn ghi âm này.
Huy Đức (blog Ôsin)

Luat Thue & Quoc hoi chuyen nghiep

LUẬT THUẾ
& QUỐC HỘI CHUYÊN NGHIỆP

Có hiệu lực từ hôm qua, 1-1-2009, nhưng đến nay, vẫn chưa ai biết chắc, Luật Thuế thu nhập cá nhân sẽ được thực hiện thế nào. Thời gian là một mốc kiểm định khắc nghiệt, nó để lại sau lưng những bộ máy bất cập. Hình ảnh người dân xếp hàng từ 4 giờ sáng để đăng ký mã thuế cho thấy, ý thức tuân theo pháp luật trong xã hội đã từng bước tăng tiến. Chính sự lúng túng của nhà nước trước thời hiệu thi hành một số luật đã làm lỗi nhịp, không chỉ với ý thức của dân chúng, mà còn với nhiều cơ hội giúp quốc gia phát triển.

Mười tháng sau khi Luật Thuế Thu nhập cá nhân được Quốc hội thông qua, ngày 8-9-2008, Chính phủ mới có Nghị định và, 30-9-2008, Bộ Tài chánh mới có thông tư hướng dẫn. Thế nhưng, những văn bản “dưới luật” ấy không những đã chưa chi tiết hóa nhiều quy định mới ở dạng “khung”, mà còn làm nổ ra cuộc tranh luận về đối tượng được khấu trừ gia cảnh. Đối tượng được khấu trừ gia cảnh không phải là một chi tiết kỹ thuật mà là một phần quan trọng của chính sách, là một nội dung mang tính quy phạm. Nó phải được tranh luận trong quá trình làm luật ở Quốc hội và Theo Luật Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL), nó phải được quy định rất cụ thể để khi Luật có hiệu lực thì thi hành được ngay. Những văn bản như nghị định (hướng dẫn thi hành luật) và thông tư chỉ có quyền quy định chi tiết quy trình, quy chuẩn kỹ thuật và những vấn đề chưa ổn định (ví dụ: giá để tính thuế…). Khi người dân hay cơ quan hành pháp không rõ một điều nào đấy trong luật thì phải trình lên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, cơ quan duy nhất có thẩm quyền giải thích, thay vì đưa ra tranh luận. Nếu, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thường xuyên giải thích luật và thường xuyên giám sát để bãi bỏ những quy định vượt quá thẩm quyền trong các văn bản ấy. Thì, sẽ tránh được những giải thích tùy tiện, đôi khi khiến cho những quy định trong các thông tư, nghị định không còn là ý chí xuất phát của các nhà làm luật. Luật Thuế thu nhập cá nhân dành hơn 13 tháng cho công tác chuẩn bị, nhưng, cho tới nay, hàng chục triệu người trong diện chịu thuế vẫn chưa làm xong thủ tục đăng ký mã thuế cá nhân. Đây mới chính là một quy trình kỹ thuật thuộc thẩm quyền của cơ quan hành pháp. Lẽ ra ngay từ cuối năm 2007, công tác tuyên truyền, để người dân nhận ra ai thuộc diện chịu thuế và đăng ký mã thuế, phải đựơc Tổng cục Thuế bắt đầu. Một phần ngân sách cũng phải được chuẩn bị để thiết lập các điểm đăng ký thuận lợi nhất cho người dân. Để không làm tăng biên chế dài hạn và không làm tăng việc cho các nhân viên đương nhiệm, sinh viên có thể được tuyển dụng có thời hạn và làm việc ngoài giờ cho việc đăng ký này. Đồng thời, một phần mềm để đăng ký mã thuế online cũng phải được thiết lập để giảm chi phí quản lý và tăng tiện ích, khuyến khích người dân đóng thuế. Việc Ủy ban Thường vụ Quốc hội, trong phiên họp chiều 27-12-2008, không chấp thuận đề xuất hai phương án của Chính phủ, lùi thời điểm thi hành hoặc miễn, giảm thuế thu nhập cá nhân, là đúng. Nhưng, lẽ ra Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nếu thấy cấp thiết, nên triệu tập Quốc hội họp bất thường thay vì “trình Bộ Chính trị trong tháng Một”. Đành rằng, theo Hiến pháp, Đảng là cơ quan lãnh đạo. Nhưng, “Đảng lãnh đạo nhà nước không có nghĩa là làm thay chức năng của các cơ quan nhà nước”. Hiến pháp quy định, chỉ có Quốc hội mới có thẩm quyền thay đổi thời hiệu thi hành một văn bản luật. Hai phương án xử lý, nếu là cấp thiết nhằm “ngăn chặn đà suy giảm phát triển kinh tế”, như Chính phủ đề nghị, thì cần phải được xử lý kịp thời. Việc triệu tập Quốc hội trong một phiên họp bất thường tuy cũng tốn kém, nhưng sẽ không so sánh được với những tổn thất, nếu như suy thoái kinh tế không được kịp thời ngăn chặn. Tình huống xử lý Luật Thuế được thảo luận chiều 27-12 cho thấy, Việt Nam đã ở trong một giai đoạn không thể không tuân thủ những nguyên tắc tối thiểu của nhà nước pháp quyền. Các cơ quan nhà nước không thể nhân danh cứu nguy suy thoái kinh tế để hành xử vượt quá thẩm quyền pháp lý. Nhưng, nếu như vì những ràng buộc pháp lý mà phải chờ tới phiên họp Quốc hội tháng 5 tới đây mới có thể đưa ra các giải pháp, thì những tổn thất mà quốc gia phải gánh chịu cũng sẽ to lớn khôn lường. Rõ ràng, không thể đáp ứng cả hai đòi hỏi ấy nếu Quốc hội không trở thành một cơ quan hoạt động thường xuyên và chuyên nghiệp.
Huy Đức - Mỹ Lệ (blog Ôsin)

Cong-toi xe may


Công - tội xe máy!


Ra đường, nhất là ngồi trong xe hơi, thấy những chiếc xe máy lượn lách ngay trước mũi, nhiều vị rất hay nổi nóng. Có địa phương, vì thế, đã dăm lần bảy lượt, đòi cấm loại phương tiện giao thông, gần như là lựa chọn duy nhất, của đa số dân chúng này. “Văn hóa xe máy”, có lẽ, cũng là một trong những yếu tố thúc đẩy sự gia tăng của “nền văn minh nhà ống”, và, đích thị, liên quan rất mật thiết đến tình trạng lấn chiếm vỉa hè. Tuy nhiên, nếu cấm xe máy thì chúng ta sẽ đi lại bằng gì, trong khi, giao thông công cộng chỉ đáp ứng 5% nhu cầu của người dân TP.

Những gì mà chính quyền thành phố Jakarta, Indonesia, đang làm hiện nay là để chống tình trạng giao thông, có thể, bế tắc vào năm 2014. Quản lý đô thị đòi hỏi phải có viễn kiến như vậy, tuy, chưa chắc nhưng giải pháp của Jakarta đã thành công. Ở Việt Nam, vấn đề xe máy, lẽ ra, phải được nhận thức từ thập niên 80, khi mà những chiếc “Cub nghĩa địa” bắt đầu lén lút xuống tàu viễn dương về nước. Trước năm 1975, giao thông công cộng ở Sài Gòn đã từng đáp ứng hơn 10% nhu cầu đi lại. Nếu từ xuất phát điểm ấy, TP phát triển thêm xe bus, tàu điện treo, tàu điện ngầm… thì những chính sách hạn chế phương tiện giao thông cá nhân về sau, mới mong áp dụng.
Hiện có khoảng 4 triệu xe cộ các loại được đăng ký lưu hành tại TP HCM, ngoài ra, hơn nửa triệu xe cộ đăng ký tại các địa phương vẫn hàng ngày qua lại. Để vượt một ngã tư ở Sài Gòn, dòng xe trung bình phải mất 2- 3 chu kỳ đèn đường. Đây là một hình ảnh khá tiêu biểu, được mô tả trong một văn bản của UBND TP: “Dòng xe bus di chuyển rất chậm qua các giao lộ và bị bao vây bởi một rừng xe gắn máy”. Thế nhưng, mỗi ngày TP HCM vẫn cho đăng ký thêm khoảng 100 xe ô tô và 900 xe máy. “Chầm chậm” là vẫn còn may, không lâu nữa, xe cộ sẽ nêm chặt các thành phố.
Mở thêm đường sá, xây dựng hệ thống tàu điện ngầm… mới giải quyết một cách căn bản tình trạng này. Nhưng, chưa có gì đảm bảo là trong 10- 15 năm tới, tàu điện, ngầm hay treo, sẽ bắt đầu rục rịch. Không thể không có các giải pháp, kể cả những giải pháp trực tiếp, hạn chế lượng xe cộ lưu thông tại các TP lớn. Vấn đề là có nên chọn xe máy làm “đối tượng” chính, như các đề án lâu nay vẫn làm.
Năm 2005, Hà Nội đã tạm dừng cho đăng ký xe máy ở 7/14 quận, huyện. Tuy nhiên, sau một thời gian, biện pháp này đã phải bãi bỏ. Người dân Hà Nội vẫn phải ra đường, đi bus thì không tiện, và, đâu phải ai cũng có tiền để đi taxi. Năm 2004, TP HCM cũng đã từng có đề án thu phí xe gắn máy, với dự định thu khoảng 300 nghìn đồng/xe/năm. Nhưng, đề án cũng đã không thông qua được.
Về lý thuyết, một chính sách đánh vào túi tiền của gần như mọi người dân thì rất khó lòng tìm được sự nhất trí. Nhất là khi người dân không có đủ thông tin để tin rằng, số tiền đó sẽ giúp cải thiện tình trạng giao thông mà họ đang gánh chịu. Trên thực tế, với mật độ lưu thông hiện nay, chính sự gọn nhẹ và linh hoạt của xe máy đã không làm cho tình trạng giao thông trở nên bế tắc. Một chiếc xe máy có thể chở hai người, một chiếc xe 4 bánh cũng thường chỉ chở 2 người, trong khi mức độ chiếm chỗ của một chiếc xe hơi có thể gấp bốn lần xe máy. Đặc biệt, khi đã kẹt thì xe hơi chỉ có thể nằm chờ, trong khi, xe máy có thể thoát ra theo từng lối nhỏ.
Không phủ nhận là “văn hóa chen lấn” của xe máy nhiều khi là nguyên nhân kẹt xe. Nhưng, như chúng ta chứng kiến, không phải xe hơi không chen lấn. Con số 70% tai nạn giao thông do xe máy gây ra cũng là một con số lâu nay được dùng để cáo buộc loại phương tiện giao thông này. Nhưng, xe máy đang đảm đương tới 90% lượng lưu thông, xét tương quan, tỷ lệ tai nạn do xe máy gây ra là không cao hơn như người ta lầm tưởng.
Từ năm 2003, TP HCM đã áp dụng một mức thu lệ phí trước bạ xe máy cao hơn các địa phương khác tới 1 triệu đồng/xe. Tuy nhiên, các số liệu cho thấy, lượng xe đăng ký ở TP HCM không hề giảm. Bởi người dân vẫn phải mua xe dùng cho nhu cầu đi lại của họ và chính sách này chỉ làm cho chi phí mua xe của họ cao hơn. Theo chúng tôi, TP HCM hoàn toàn có thể áp dụng bài toán của Singapore và Thượng Hải, tính toán một lượng xe hơi, mà giao thông TP có thể chấp nhận tăng thêm hàng năm, để cấp quota cho đăng ký.
Từ năm 1990, Chính phủ Singapore bắt đầu áp dụng chính sách hạn chế số lượng phương tiện giao thông. Ví dụ như, vào tháng 10 năm 2004, Chính phủ chỉ phát ra 7322 chứng chỉ mua xe trong khi có 8605 người muốn mua. Thế là phải đấu giá. Giá trúng thầu quyền mua xe mới tháng đó, lên tới 12.745 USD/xe. Cuối năm 2004 Thượng Hải cũng ban hành chính sách đấu giá biển đăng ký xe hơi, mặc dù phương thức này đã áp dụng từ trước đó.
Từ năm 2002- 2004, bình quân mỗi tháng Thượng Hải chỉ cấp ra khoảng 4.000 biển đăng ký xe mới. Giá bỏ thầu mỗi biển số xe, trung bình từ 15- 40 nghìn nhân dân tệ/xe, bằng khoảng 1/3 giá mua một chiếc xe mới. Lúc đầu, ở Thượng Hải, nhiều người đối phó bằng cách mua xe, đăng ký ở nơi khác. Nhưng sau đó, chính quyền ban hành những khoản thu mới, áp dụng cho xe mang biển số tỉnh mỗi khi chạy vào Trung tâm nên lượng xe lưu thông tại thành phố vẫn nằm trong tầm kiểm soát.
Ở Singpore hay Thượng Hải, nếu hạn chế xe hơi, người dân có thể lựa chọn các phương tiện giao thông công cộng. Ở ta, chính sách hạn chế này sẽ chuyển nhiều người thích đi lại bằng xe hơi sang đi taxi. Những người khác sẽ đi xe gắn máy. Như vậy, nếu như, cấm xe máy sẽ khiến cho nhiều người bế tắc thì hạn chế xe hơi chỉ nhắm vào một bộ phận dân cư có thu nhập cao.
Mặt khác, sẽ là công bằng khi việc hạn chế xe hơi ở thành phố sẽ làm cho xe hơi ở nông thôn rẻ hơn. Những người giàu lên ở nông thôn có thể thụ hưởng “văn hoá xe hơi” mà không phải bỏ ra nhiều tiền như dân thành phố. Những người khá lên sẽ không chọn con đường vào thành phố bằng mọi giá như lâu nay họ vẫn làm. Biện pháp tài chánh này sẽ không đụng chạm tới “quyền được sung sướng” hơn người khác của người giàu. Nhưng vì người đi xe hơi sẽ chiếm dụng hạ tầng nhiều hơn, các chủ xe xứng đáng phải đóng góp nhiều hơn cho TP.
Tất nhiên, nếu như những chính sách đụng chạm tới xe máy dễ bị phản ứng bởi số đông, chính sách hạn chế xe hơi cũng không dễ thông qua vì nó sẽ đụng vào những người có thế lực. Về lâu dài, phải giải quyết bài toán giao thông đô thị bằng các giải pháp căn bản. Nhưng trong khi chờ đợi. TP cũng phải làm một cái gì đó, nếu không, trong tương lai không xa nữa, đường phố sẽ chỉ còn một chức năng duy nhất là trở thành bãi đỗ xe.

Huy Đức (blog Ôsin)

Dao duong & Quyen luc cong

Đào đường
& Quyền lực công

Một bé trai 14 tuổi chết hôm 26-7-2008 do rơi xuống một công trình đang thi công gần cầu Nguyễn tri Phương, quận 8, TP HCM. Mười ba ngày trước đó, 13-7, tại Phường Thảo Điền, quận 2, một bé trai bốn tuổi cũng chết do rơi xuống một hố ga đang thi công mà không hề đậy nắp. Năm ngoái, tại Tân Thuận Đông, 4 đứa trẻ cũng đã chết đuối do sụp xuống hố sâu của một công trình đặt đường ống nước. Người dân Sài Gòn, vốn rất dễ xúc động trước những cái chết của các em nhỏ tỉnh xa, trong những vụ đắm đò ở Chôm Lôm, Nông Sơn…, nay, không ít người nhận ra mối đe dọa với con em họ, có thể cũng ở đây, ngay giữa trung tâm TP.

Chưa có vụ việc nào bị khởi tố. Chưa thấy các cơ quan tố tụng truy cứu “trách nhiệm hình sự” trong những trường hợp “gây chết người” này, cho dù, ở TP đã từng có “án lệ”. Mười tám năm trước, giám đốc đơn vị đào đường Hoàng Hoa Thám để đặt đường ống thoát nước đã bị xử 6 năm tù giam do không thiết lập rào chắn, khiến 2 cô cháu chết khi rơi xuống hố sâu 3 mét của công trình đang thi công này. Tính chất của vụ “đào đường Hoàng Hoa Thám” hồi năm 1990 và những vụ bất cẩn gây chết người gần đây là như nhau. Sự khác biệt, có lẽ nằm ở chỗ, Chính quyền hiện nay coi những cái chết như vậy là tai nạn.
Dựng hàng loạt “lô cốt” trên hàng chục tuyến đường của TP để xây dựng các công trình hạ tầng đúng là một việc chẳng đặng đừng. Nhưng, không thể nhân danh lợi ích công cộng để có thể bỏ qua những nguyên tắc an toàn đối với các công trình xây dựng. Không chỉ những trường hợp gây chết người, với nhiều dấu hiệu hình sự, như vừa kể trên mới đáng quan tâm, những thiệt hại cho những người dân sinh sống, kinh doanh ở những nơi có những “lô cốt” này đi qua, nếu cứ nhân danh quyền công mà bỏ qua, cũng rất dễ xảy ra tình trạng lạm quyền của các chủ đầu tư và các nhà thầu xây dựng chúng.
Hàng chục hộ kinh doanh bên dãy số lẻ đầu đường Hàm Nghi, 3 năm trước, bị bịt đường đi lại trong suốt hơn một năm. Có trường hợp phải ngừng kinh doanh, có trường hợp, như khách sạn Quê Hương II, bị vỡ nhiều hợp đồng và bị không ít khách hàng bỏ đi, thiệt hại không thể nào tính hết. Hàng nghìn hộ dân kinh doanh trên các tuyến đường thuộc Dự án môi trường Nhiêu Lộc- Thị Nghè đang phải chịu “ế ẩm” do bị các dãy lô cốt chắn trước cửa nhà nhiều tháng trời. Những công trình như vậy, cho dù là hết sức cần thiết, thì lợi ích của nó là lâu dài và phục vụ cho mọi người. Thiệt hại, rủi ro, vì thế, sẽ là không công bằng khi chỉ buộc những người dân sống cạnh những công trình này chịu đựng.
Kinh phí đầu tư cho những công trình trong TP cần phải được tính bao gồm cả những khoản đền bù cho những người dân bị thiệt hại do việc thi công các công trình gây ra. Bồi thường dân sự không chỉ là đạo lý và trách nhiệm pháp lý của Chính quyền mà còn là một công cụ chế tài các nhà thầu. Những người nhận thi công những công trình như vậy sẽ không dám cẩu thả vì nếu gây ra chết người, họ sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu kéo dài thời gian thi công, họ sẽ phải bồi thường cho những gì mà những người dân ở đó chịu đựng do việc xây dựng các công trình này gây ra. Nên khuyến khích các hộ dân trong những khu vực này kiện các nhà thầu ra tòa. Chính những khoản bồi thường dân sự sẽ là công cụ “kiểm tra, giám sát” hữu hiệu nhất chứ không phải chỉ là các thanh tra viên có thể bị lũng đoạn bởi các nhà thầu xây dựng.
Tám năm trước, khi đoàn làm phim Người Mỹ Trầm Lặng đến Sài Gòn, đạo diễn Philippe Noyce đã rất ngạc nhiên khi được TP cho phép chặn một số tuyến đường ở khu vực Nhà hát Thành phố suốt cả tuần liền để quay phim (tương tự như Đoàn làm phim Người Tình trước đó). Chính Philippe Noyce đã phải thừa nhận rằng, không mấy đâu trên Thế giới chính quyền lại có thể ban cho đoàn làm phim một đặc ân như vậy. Tất nhiên, Đoàn làm phim đã phải bồi thường thỏa đáng cho những hộ dân có cơ sở kinh doanh trong khu vực. Nhưng, những thiệt hại cho những người dân phải đi vòng để tránh Người Mỹ Trầm Lặng thì không được bồi thường. Đoàn làm phim đã khai thác “quyền lực công” mà TP ban cho, để buộc những người dân khác phải chịu phiền hà do quyền lợi hết sức riêng tư của họ.
Không nên trông đợi những người từ xa tới, cũng như những nhà thầu xây dựng, phải quan tâm đến quyền lợi của người dân một khi Chính quyền không tiên liệu hết những điều phiền hà ấy. Sự an toàn về tính mạng và cuộc sống bình thường của người dân là những giá trị mà chính quyền, bất cứ ở đâu, cũng đều sinh ra chỉ nhằm một mục tiêu là bảo vệ. Không lý gì một ông lão 82 tuổi để đắm đò, làm chết các em học sinh ở Nông Sơn, Quảng Nam, phải chịu 3 năm tù giam mà những kẻ đào đường không che chắn để làm chết trẻ em ở giữa một thành phố văn minh lại không chịu tội. Không lý gì những người dân phải chịu đi lại khó khăn, thua lỗ trong kinh doanh chỉ vì sự bê trễ của các nhà thầu. Không thể nhân danh lợi ích công để lạm dụng quyền lực công. Sự nghiêm minh với những công trình do nhà nước đầu tư không chỉ là một đòi hỏi đương nhiên mà còn có tác dụng làm gương cho tinh thần thượng tôn pháp luật.

Huy Đức (blog Ôsin)

Ghi no len bang

Ghi nợ lên bằng!

“Sáng kiến” ghi các khoản nợ sinh viên lên bằng tốt nghiệp đã khiến cho dư luận sửng sốt. Có thể nhiều người không ngạc nhiên khi nó được “kết luận” bởi Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân. Nhưng vấn đề không phải là cá nhân ông Nhân. Có lẽ, “cảm giác bị xúc phạm” sẽ không xuất hiện nếu đề nghị ấy chỉ được đưa ra bởi các quan chức ngân hàng, thay vì một người đứng đầu ngành giáo dục.

“Ghi nợ lên bằng tốt nghiệp” chỉ là một chi tiết kỹ thuật, sở dĩ nó tạo ra sự bất bình, theo tiến sỹ Nguyễn Ngọc Điện, chủ yếu vì “tác giả” của “sáng kiến” đó “chưa thấm nhuần văn hóa pháp luật”. Tín dụng cho sinh viên nghèo là một chương trình quan trọng. Việc điều chỉnh nó, không chỉ là tìm chỗ ghi nợ cho các sinh viên, không chỉ đòi hỏi người soạn thảo phải “có văn hóa”, mà còn phải làm rõ yếu tố chính sách dựa trên những phân tích khoa học thì mới mong phát huy tác dụng.
Cho sinh viên vay tiền đi học không phải là một hoạt động kinh doanh tín dụng mà là một đầu tư cho giáo dục. Vì thế, các ngân hàng không thể đơn phương thực hiện mà phải bắt đầu từ nhà nước bằng một chính sách được cẩn trọng đo lường.
Lâu nay, ngân sách của nhà nước chủ yếu được rót cho các địa phương, cho các sở, trường. Năm 2007, trong số 66.700 tỷ đồng chi cho Giáo dục, có tới 55.240 tỷ dùng để “chi thường xuyên”. Dành một phần ngân sách thích đáng để đầu tư trực tiếp cho sinh viên, học sinh thông qua các quỹ như: trợ giúp không hoàn lại cho các sinh viên khó khăn đặc biệt; quỹ cho sinh viên vay để đóng học phí; quỹ cho cha mẹ vay để lo tiền ăn học cho con… là một công cụ không thể thiếu nếu muốn tạo ra chút ít cơ hội cho những người nghèo.
Quỹ Tín dụng Đào tạo, chỉ trong vòng 2 tháng đã cho tới 500 nghìn sinh viên, học sinh vay với số tiền 2.188 tỷ đồng, cho thấy, vay tiền đi học là một nhu cầu có thật. Tuy nhiên, có lẽ vì việc cho sinh viên vay chưa được thiết kế như là một chính sách giáo dục, đầu từ trực tiếp cho người học, cho nên nó đang được “phân phối” chỉ thông qua một kênh duy nhất là Ngân hàng Chính sách xã hội thay vì có sự tham gia của cả hệ thống ngân hàng.
Sinh viên khi vay tiền từ Quỹ này được hưởng một lãi suất rất thấp, 0,5%/tháng, và nợ cả vốn lẫn lãi, chỉ sau khi ra trường một năm mới bắt đầu thu hồi. Không thể có một ngân hàng thương mại nào có thể chịu được lãi suất như vậy. Nhưng nếu chỉ giao cho Ngân hàng Chính sách xã hội thì không những rủi ro được tập trung ở một nơi, năng lực thẩm định, cho vay và thu hồi vốn sẽ không bằng các ngân hàng kinh doanh khác, mà nguồn tiền cho vay cũng sẽ bị hạn chế rất nhiều.
Hàng năm, ngân sách giáo dục nên dành một phần thích ứng để rót thẳng vào các quỹ này, nhưng khoản tiền cho vay không chỉ dựa vào nguồn tiền đó. Nhà nước sẽ “bảo lãnh” để sinh viên đủ điều kiện có thể vay tiền ở bất cứ ngân hàng thương mại nào. Khoản tiền ngân sách này sẽ chi để bù đắp cho các ngân hàng thương mại phần chênh lệch mà các ngân hàng này áp dụng khi cho sinh viên vay so với các nguồn tín dụng thương mại khác. Ví dụ, lãi suất thương mại là 1%/tháng trong khi lãi suất cho sinh viên vay chỉ là 0,5% thì ngân sách nhà nước sẽ được sử dụng để bù đắp phần chênh lệch lãi (1% - o,5%) áp dụng cho các sinh viên. Lãi suất lẽ ra chỉ nên áp dụng với tín dụng sinh viên sau khi ra trường, có việc làm và ngân sách sẽ chi bù vào khoản lãi đã miễn cho sinh viên đó. Ngân hàng Chính sách xã hội nên được nhà nước ủy nhiệm để đứng ra thẩm định và chi những khoản chênh lệch hợp lý cho các ngân hàng thương mại thay vì trực tiếp cho vay. Một phần ngân sách khác sẽ phải được dùng để lập quỹ phòng ngừa rủi ro cho khoản nợ không phải lúc nào cũng dễ đòi này.
Cho dù việc ghi nợ vào bằng tốt nghiệp là một ý tưởng không thể chấp nhận thì lo toan của ông Nguyễn Thiện Nhân cũng có nhiều điểm rất cần được chia sẻ. Chính sách sẽ bị lạm dụng bởi những người không thực sự có nhu cầu nếu không có các chế tài để đảm bảo rằng những khoản vay này sẽ thu hồi được.
Tuy nhiên, vì nó là một chính sách xã hội nên phải tiên liệu là sẽ có những người, cho dù đã vay tiền để học nhưng sau khi ra trường không thể kiếm được việc làm có mức lương vừa đủ sống, vừa đủ để trang trải nợ nần, thì cũng nên được xem xét cho xóa nợ. Nhà nước cũng đã từng cho các doanh nghiệp quốc doanh làm ăn thua lỗ xóa nợ thì cũng nên làm như vậy với sinh viên. Cũng có thể có những sinh viên khác chây lì hoặc ngân hàng sẽ gặp khó khăn do không tìm được tung tích của họ sau khi tốt nghiệp. Cứ tiên liệu, mức độ rủi ro là 10% thì, nếu tín dụng cho sinh viên lên đến khoảng 10.000 tỷ/năm (gần gấp 5 lần mức cho vay hiện nay), khoản mà nhà nước thực chi cũng chỉ vào khoảng từ 1.500- 2000 tỷ/năm trả cho cả phần rủi ro và lãi.
Không thể có một chính sách đơn lẻ nào có thể kiểm soát được các khoản nợ này khi nó được “xé lẻ” ra cho từng người. Ghi chú vào văn bằng lại càng là một nỗ lực vô vọng, nhất là đối với những người cố tình trốn nợ (chưa nói tới khía cạnh văn hóa). Không có chế tài nào có thể hữu hiệu tuyệt đối nếu không tạo ra được một thế hệ công dân biết tôn trọng các cam kết, tôn trọng luật pháp, tự hào với việc đã hoàn thành các nghĩa vụ (như là đóng thuế) với nhà nước. Tuy nhiên, các cam kết khi vay cũng nên để cho sinh viên nhận thấy, nếu có khả năng trả nợ mà không trả thì khi bị phát hiện, với “lý lịch tín dụng xấu” đó, họ có thể gặp khó khăn rất nhiều cho tiếng tăm và con đường tiến thân trong tương lai của mình.
Phải có một trung tâm lưu trữ thuộc “chính phủ điện tử” có đầy đủ các dữ liệu cá nhân, kể cả các dữ liệu về thuế, nợ nần… mà khi cần chỉ gõ số chứng minh thư, passport, hay số “an sinh xã hội” là xuất hiện đầy đủ thì mới dễ dàng tìm kiếm những người thiếu nợ. Những sinh viên sau khi tốt nghiệp, không trả nợ, nếu an phận với xe nước mía bên bờ kênh Nhiêu Lộc hay đứng bán sức lao động ở chợ Long Biên thì còn có cơ may thoát. Nếu chưa trả nợ mà cũng đòi đi học lên cao hơn, đòi thăng chức, đòi đi du lịch… thì tất nhiên là sẽ bị phát hiện dễ dàng.
Tìm kiếm những giải pháp để có thể thu hồi những khoản tín dụng đã đầu tư cho sinh viên là cần thiết vì nó còn có ý nghĩa bảo vệ một chính sách đúng. Tuy nhiên cứ loay hoay tìm một chỗ để “đánh dấu” trên mảnh bằng tốt nghiệp, thậm chí loay hoay với các giải pháp trong ngành giáo dục hay ngân hàng cũng không thể nào xử lý được một cách rốt ráo. Cần có những giải pháp đồng bộ để làm minh bạch cả hệ thống mới mong có được sự thành công của các chính sách nhất là những chính sách có mức độ ảnh hưởng lâu dài như chính sách này.

PS: Chiều 28-3-2007, sau khi gặp Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, tôi và một vị GS người Việt từ Mỹ về (chưa tiện nói tên) được bố trí gặp ông Nguyễn Minh Hiển, Cựu Bộ trưởng Giáo dục và ông Phan Thanh Bình, khi đó vừa được bổ nhiệm làm Giám đốc Đại học Quốc gia TP HCM. Ông Hiển được đích thân Thủ tướng giới thiệu là Trợ lý Thủ tướng kiêm Thường trực Hội đồng Quốc gia Giáo dục. Buổi gặp chủ yếu bàn về hợp tác giáo dục giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. Tuy nhiên, khi phát biểu, tôi có đề nghị hai ông so sánh chính sách đầu tư giữa Pháp và Mỹ và đề nghị nên giành một phần ngân sách để đầu tư trực tiếp thông qua các quỹ cho sinh viên vay. Ông Hiển nói là ông cũng đã từng nghe những đề xuất như vậy và ông cho điều đó là cần thiết. Tôi không rõ “Tín dụng Đào tạo” hiện nay là sáng kiến từ ông Nhân hay đã bắt đầu từ thời ông Hiển.
Huy Đức (blog Ôsin)

"Choi so" hoc sinh bo hoc!

"Chơi số" học sinh bỏ học!


Cuối cùng, sự sai lệch về số lượng học sinh bỏ học mà báo Tiền Phong vạch ra, đã được Bộ Giáo dục, trong buổi họp báo ngày 9-4, quy trách nhiệm cho các sở. Ngày 14-3-2008, khi báo chí bày tỏ sự lo ngại về con số 114 nghìn học sinh bỏ học, Bộ Giáo dục đã gửi công văn về các địa phương phê phán báo chí gây “bức xúc không đáng có trong xã hội, (làm) tổn thương tới ngành giáo dục và thầy cô giáo”.

Theo công văn này, thì tỷ lệ học sinh bỏ học không những không tăng “như báo chí nói” mà còn giảm mạnh: “Trước cuộc vận động ‘hai không’, bình quân 1000 em đi học thì có khoảng 60-70 em bỏ học, nhưng, sau một năm, chỉ còn 20 em và trong học kỳ I năm học 2007-2008, bình quân 1000 em đi học chỉ còn 2 em bỏ học”.
Khi chưa thể khẳng định các con số mà Bộ Giáo dục đưa ra là đúng hay sai, đã có nhiều bài báo cho rằng, trong tình hình ấy, cách tốt nhất mà Bộ nên làm là đi tìm nguyên nhân khắc phục, thay vì sử dụng các con số để “pha loãng” một thực tế rất cần được đánh động. Cựu Bộ trưởng Bộ Giáo dục, GS Phạm Minh Hạc nói: “Nếu có ai đó trong ngành Giáo dục cho rằng học sinh bỏ học không phải là chuyện mới, có thể coi (người đó) là vô trách nhiệm”. Một số tờ báo đã nghi ngờ tính chính xác của các con số do Bộ Giáo dục đưa ra. Báo Tiền Phong âm thầm cử phóng viên về các địa phương và kết quả điều tra của tờ báo này cho thấy, số học sinh bỏ học theo báo cáo của các sở, chênh lệch rất nhiều với báo cáo mà Bộ dùng để phê phán báo chí.
Tất cả các địa phương mà phóng viên báo Tiền Phong tới điều tra, dù miền Trung, miền Bắc hay Đồng Bằng Sông Cửu Long, số học sinh bỏ học trên thực tế đều lớn hơn rất nhiều so với con số đưa ra trong báo cáo ngày 14-3 của Bộ. Tại Khánh Hòa, công văn của Bộ Giáo dục nói chỉ có 1.034 em bỏ học, khác xa con số do sở Giáo dục Tỉnh ghi nhận: 14.000 em bỏ học cho tới hết kỳ I. Phó Chủ tịch UBND Tỉnh Khánh Hòa, ông Lê Xuân Thân, nói: “Bộ Giáo dục chưa thẳng thắn”.
Trước sự thật ấy, trong buổi họp báo ngày 9-4-2008, Vụ trưởng Vụ Giáo dục Trung học, Lê Quán Tần, thừa nhận: “con số của chúng ta có vấn đề”; và, ông chủ động giải thích: Sở dĩ có độ vênh giữa các số liệu là do các sở căn cứ vào các mốc thời gian khác nhau để báo cáo. Theo ông Tần, “Các sở phải chịu trách nhiệm” về những con số đó. Tuy số liệu học sinh bỏ học ghi nhận trong báo cáo của Bộ thấp hơn nhiều so với sự thật, Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân, khi trả lời phỏng vấn báo Tiền Phong, cho rằng: “Không thể là (vì) bệnh thành tích”.
Cũng cần nhắc lại, báo cáo ngày 14-3 của Bộ Giáo dục đưa ra sau khi xảy ra vụ bỏ học lên tới hàng trăm em ở huyện Thạch Thành, Thanh Hóa và lý do được xác định là do địa phương này áp dụng khá máy móc “hai không”. Ông Nguyễn Vinh Hiển đã từng thừa nhận: “Có một lý do đáng kể xuất phát từ việc thực hiện cuộc vận động nói không với thành tích”. Nhưng, cũng chính ông Hiển, khi ký công văn ngày 14-3 lại nhấn mạnh yếu tố “trước và sau cuộc vận động hai không” bằng các số liệu mà chúng tôi vừa phân tích. Chưa kể, chính công văn này của Bộ cũng “sử dụng các dữ liệu” theo cách mà ông Lê Quán Tần phê bình các sở: số học sinh bỏ học không đầy đủ trong một học kỳ của năm học 2007-2008 đã được dùng để so sánh với con số cả năm của những năm trước đó.
Tình trạng học sinh bỏ học, như đã nói, do: điều kiện giáo viên, trường lớp; do nghèo khó; do chương trình học quá nhiều tham vọng, tạo ra nhiều áp lực … Và, như phân tích của GS Phạm Minh Hạc: Cuộc vận động “hai không” về bản chất rất tốt, nhưng cách làm chưa ổn. “Phanh” bệnh thành tích một cách quá gấp, khiến cho nhiều học sinh và cả phụ huynh phấp phỏng lo cho tương lai, học tốn kém mà không đỗ. Cho nên, chưa lúc nào như hiện nay, cả phụ huynh cũng đồng thuận cho con mình nghỉ học.
Như vậy, trừ “hai không”, học sinh bỏ học do nhiều nguyên nhân và có những nguyên nhân bắt đầu từ các nhiệm kỳ bộ trưởng khác. Việc khắc phục phải từng bước, bắt đầu bằng các chính sách thận trọng, chứ không thể giải quyết trong một sớm, một chiều. Muốn có các chính sách đúng thì phải biết được các nguyên nhân trên cơ sở có được đầy đủ, chính xác các dữ liệu. Có thể không phải vì “bệnh thành tích” như Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân nói. Cũng có thể “lỗi do các sở” như ý kiến của Vụ trưởng Lê Quán Tần. Điều đáng lo là, ngay cả một vấn đề hệ trọng như học sinh bỏ học, mà hệ thống giáo dục cũng không đưa ra được các dữ liệu đúng. Sự sai lệch giữa con số thực tế và con số do Bộ báo cáo, không chỉ ảnh hưởng tới uy tín, điều đáng lo ngại hơn là, trên một cơ sở dữ liệu thiếu chính xác như vậy, làm sao Bộ có thể đưa ra được các chính sách đúng, hữu hiệu và kịp thời.

Huy Đức (blog Ôsin)