8 thg 1, 2009

Dao duong & Quyen luc cong

Đào đường
& Quyền lực công

Một bé trai 14 tuổi chết hôm 26-7-2008 do rơi xuống một công trình đang thi công gần cầu Nguyễn tri Phương, quận 8, TP HCM. Mười ba ngày trước đó, 13-7, tại Phường Thảo Điền, quận 2, một bé trai bốn tuổi cũng chết do rơi xuống một hố ga đang thi công mà không hề đậy nắp. Năm ngoái, tại Tân Thuận Đông, 4 đứa trẻ cũng đã chết đuối do sụp xuống hố sâu của một công trình đặt đường ống nước. Người dân Sài Gòn, vốn rất dễ xúc động trước những cái chết của các em nhỏ tỉnh xa, trong những vụ đắm đò ở Chôm Lôm, Nông Sơn…, nay, không ít người nhận ra mối đe dọa với con em họ, có thể cũng ở đây, ngay giữa trung tâm TP.

Chưa có vụ việc nào bị khởi tố. Chưa thấy các cơ quan tố tụng truy cứu “trách nhiệm hình sự” trong những trường hợp “gây chết người” này, cho dù, ở TP đã từng có “án lệ”. Mười tám năm trước, giám đốc đơn vị đào đường Hoàng Hoa Thám để đặt đường ống thoát nước đã bị xử 6 năm tù giam do không thiết lập rào chắn, khiến 2 cô cháu chết khi rơi xuống hố sâu 3 mét của công trình đang thi công này. Tính chất của vụ “đào đường Hoàng Hoa Thám” hồi năm 1990 và những vụ bất cẩn gây chết người gần đây là như nhau. Sự khác biệt, có lẽ nằm ở chỗ, Chính quyền hiện nay coi những cái chết như vậy là tai nạn.
Dựng hàng loạt “lô cốt” trên hàng chục tuyến đường của TP để xây dựng các công trình hạ tầng đúng là một việc chẳng đặng đừng. Nhưng, không thể nhân danh lợi ích công cộng để có thể bỏ qua những nguyên tắc an toàn đối với các công trình xây dựng. Không chỉ những trường hợp gây chết người, với nhiều dấu hiệu hình sự, như vừa kể trên mới đáng quan tâm, những thiệt hại cho những người dân sinh sống, kinh doanh ở những nơi có những “lô cốt” này đi qua, nếu cứ nhân danh quyền công mà bỏ qua, cũng rất dễ xảy ra tình trạng lạm quyền của các chủ đầu tư và các nhà thầu xây dựng chúng.
Hàng chục hộ kinh doanh bên dãy số lẻ đầu đường Hàm Nghi, 3 năm trước, bị bịt đường đi lại trong suốt hơn một năm. Có trường hợp phải ngừng kinh doanh, có trường hợp, như khách sạn Quê Hương II, bị vỡ nhiều hợp đồng và bị không ít khách hàng bỏ đi, thiệt hại không thể nào tính hết. Hàng nghìn hộ dân kinh doanh trên các tuyến đường thuộc Dự án môi trường Nhiêu Lộc- Thị Nghè đang phải chịu “ế ẩm” do bị các dãy lô cốt chắn trước cửa nhà nhiều tháng trời. Những công trình như vậy, cho dù là hết sức cần thiết, thì lợi ích của nó là lâu dài và phục vụ cho mọi người. Thiệt hại, rủi ro, vì thế, sẽ là không công bằng khi chỉ buộc những người dân sống cạnh những công trình này chịu đựng.
Kinh phí đầu tư cho những công trình trong TP cần phải được tính bao gồm cả những khoản đền bù cho những người dân bị thiệt hại do việc thi công các công trình gây ra. Bồi thường dân sự không chỉ là đạo lý và trách nhiệm pháp lý của Chính quyền mà còn là một công cụ chế tài các nhà thầu. Những người nhận thi công những công trình như vậy sẽ không dám cẩu thả vì nếu gây ra chết người, họ sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu kéo dài thời gian thi công, họ sẽ phải bồi thường cho những gì mà những người dân ở đó chịu đựng do việc xây dựng các công trình này gây ra. Nên khuyến khích các hộ dân trong những khu vực này kiện các nhà thầu ra tòa. Chính những khoản bồi thường dân sự sẽ là công cụ “kiểm tra, giám sát” hữu hiệu nhất chứ không phải chỉ là các thanh tra viên có thể bị lũng đoạn bởi các nhà thầu xây dựng.
Tám năm trước, khi đoàn làm phim Người Mỹ Trầm Lặng đến Sài Gòn, đạo diễn Philippe Noyce đã rất ngạc nhiên khi được TP cho phép chặn một số tuyến đường ở khu vực Nhà hát Thành phố suốt cả tuần liền để quay phim (tương tự như Đoàn làm phim Người Tình trước đó). Chính Philippe Noyce đã phải thừa nhận rằng, không mấy đâu trên Thế giới chính quyền lại có thể ban cho đoàn làm phim một đặc ân như vậy. Tất nhiên, Đoàn làm phim đã phải bồi thường thỏa đáng cho những hộ dân có cơ sở kinh doanh trong khu vực. Nhưng, những thiệt hại cho những người dân phải đi vòng để tránh Người Mỹ Trầm Lặng thì không được bồi thường. Đoàn làm phim đã khai thác “quyền lực công” mà TP ban cho, để buộc những người dân khác phải chịu phiền hà do quyền lợi hết sức riêng tư của họ.
Không nên trông đợi những người từ xa tới, cũng như những nhà thầu xây dựng, phải quan tâm đến quyền lợi của người dân một khi Chính quyền không tiên liệu hết những điều phiền hà ấy. Sự an toàn về tính mạng và cuộc sống bình thường của người dân là những giá trị mà chính quyền, bất cứ ở đâu, cũng đều sinh ra chỉ nhằm một mục tiêu là bảo vệ. Không lý gì một ông lão 82 tuổi để đắm đò, làm chết các em học sinh ở Nông Sơn, Quảng Nam, phải chịu 3 năm tù giam mà những kẻ đào đường không che chắn để làm chết trẻ em ở giữa một thành phố văn minh lại không chịu tội. Không lý gì những người dân phải chịu đi lại khó khăn, thua lỗ trong kinh doanh chỉ vì sự bê trễ của các nhà thầu. Không thể nhân danh lợi ích công để lạm dụng quyền lực công. Sự nghiêm minh với những công trình do nhà nước đầu tư không chỉ là một đòi hỏi đương nhiên mà còn có tác dụng làm gương cho tinh thần thượng tôn pháp luật.

Huy Đức (blog Ôsin)

Ghi no len bang

Ghi nợ lên bằng!

“Sáng kiến” ghi các khoản nợ sinh viên lên bằng tốt nghiệp đã khiến cho dư luận sửng sốt. Có thể nhiều người không ngạc nhiên khi nó được “kết luận” bởi Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân. Nhưng vấn đề không phải là cá nhân ông Nhân. Có lẽ, “cảm giác bị xúc phạm” sẽ không xuất hiện nếu đề nghị ấy chỉ được đưa ra bởi các quan chức ngân hàng, thay vì một người đứng đầu ngành giáo dục.

“Ghi nợ lên bằng tốt nghiệp” chỉ là một chi tiết kỹ thuật, sở dĩ nó tạo ra sự bất bình, theo tiến sỹ Nguyễn Ngọc Điện, chủ yếu vì “tác giả” của “sáng kiến” đó “chưa thấm nhuần văn hóa pháp luật”. Tín dụng cho sinh viên nghèo là một chương trình quan trọng. Việc điều chỉnh nó, không chỉ là tìm chỗ ghi nợ cho các sinh viên, không chỉ đòi hỏi người soạn thảo phải “có văn hóa”, mà còn phải làm rõ yếu tố chính sách dựa trên những phân tích khoa học thì mới mong phát huy tác dụng.
Cho sinh viên vay tiền đi học không phải là một hoạt động kinh doanh tín dụng mà là một đầu tư cho giáo dục. Vì thế, các ngân hàng không thể đơn phương thực hiện mà phải bắt đầu từ nhà nước bằng một chính sách được cẩn trọng đo lường.
Lâu nay, ngân sách của nhà nước chủ yếu được rót cho các địa phương, cho các sở, trường. Năm 2007, trong số 66.700 tỷ đồng chi cho Giáo dục, có tới 55.240 tỷ dùng để “chi thường xuyên”. Dành một phần ngân sách thích đáng để đầu tư trực tiếp cho sinh viên, học sinh thông qua các quỹ như: trợ giúp không hoàn lại cho các sinh viên khó khăn đặc biệt; quỹ cho sinh viên vay để đóng học phí; quỹ cho cha mẹ vay để lo tiền ăn học cho con… là một công cụ không thể thiếu nếu muốn tạo ra chút ít cơ hội cho những người nghèo.
Quỹ Tín dụng Đào tạo, chỉ trong vòng 2 tháng đã cho tới 500 nghìn sinh viên, học sinh vay với số tiền 2.188 tỷ đồng, cho thấy, vay tiền đi học là một nhu cầu có thật. Tuy nhiên, có lẽ vì việc cho sinh viên vay chưa được thiết kế như là một chính sách giáo dục, đầu từ trực tiếp cho người học, cho nên nó đang được “phân phối” chỉ thông qua một kênh duy nhất là Ngân hàng Chính sách xã hội thay vì có sự tham gia của cả hệ thống ngân hàng.
Sinh viên khi vay tiền từ Quỹ này được hưởng một lãi suất rất thấp, 0,5%/tháng, và nợ cả vốn lẫn lãi, chỉ sau khi ra trường một năm mới bắt đầu thu hồi. Không thể có một ngân hàng thương mại nào có thể chịu được lãi suất như vậy. Nhưng nếu chỉ giao cho Ngân hàng Chính sách xã hội thì không những rủi ro được tập trung ở một nơi, năng lực thẩm định, cho vay và thu hồi vốn sẽ không bằng các ngân hàng kinh doanh khác, mà nguồn tiền cho vay cũng sẽ bị hạn chế rất nhiều.
Hàng năm, ngân sách giáo dục nên dành một phần thích ứng để rót thẳng vào các quỹ này, nhưng khoản tiền cho vay không chỉ dựa vào nguồn tiền đó. Nhà nước sẽ “bảo lãnh” để sinh viên đủ điều kiện có thể vay tiền ở bất cứ ngân hàng thương mại nào. Khoản tiền ngân sách này sẽ chi để bù đắp cho các ngân hàng thương mại phần chênh lệch mà các ngân hàng này áp dụng khi cho sinh viên vay so với các nguồn tín dụng thương mại khác. Ví dụ, lãi suất thương mại là 1%/tháng trong khi lãi suất cho sinh viên vay chỉ là 0,5% thì ngân sách nhà nước sẽ được sử dụng để bù đắp phần chênh lệch lãi (1% - o,5%) áp dụng cho các sinh viên. Lãi suất lẽ ra chỉ nên áp dụng với tín dụng sinh viên sau khi ra trường, có việc làm và ngân sách sẽ chi bù vào khoản lãi đã miễn cho sinh viên đó. Ngân hàng Chính sách xã hội nên được nhà nước ủy nhiệm để đứng ra thẩm định và chi những khoản chênh lệch hợp lý cho các ngân hàng thương mại thay vì trực tiếp cho vay. Một phần ngân sách khác sẽ phải được dùng để lập quỹ phòng ngừa rủi ro cho khoản nợ không phải lúc nào cũng dễ đòi này.
Cho dù việc ghi nợ vào bằng tốt nghiệp là một ý tưởng không thể chấp nhận thì lo toan của ông Nguyễn Thiện Nhân cũng có nhiều điểm rất cần được chia sẻ. Chính sách sẽ bị lạm dụng bởi những người không thực sự có nhu cầu nếu không có các chế tài để đảm bảo rằng những khoản vay này sẽ thu hồi được.
Tuy nhiên, vì nó là một chính sách xã hội nên phải tiên liệu là sẽ có những người, cho dù đã vay tiền để học nhưng sau khi ra trường không thể kiếm được việc làm có mức lương vừa đủ sống, vừa đủ để trang trải nợ nần, thì cũng nên được xem xét cho xóa nợ. Nhà nước cũng đã từng cho các doanh nghiệp quốc doanh làm ăn thua lỗ xóa nợ thì cũng nên làm như vậy với sinh viên. Cũng có thể có những sinh viên khác chây lì hoặc ngân hàng sẽ gặp khó khăn do không tìm được tung tích của họ sau khi tốt nghiệp. Cứ tiên liệu, mức độ rủi ro là 10% thì, nếu tín dụng cho sinh viên lên đến khoảng 10.000 tỷ/năm (gần gấp 5 lần mức cho vay hiện nay), khoản mà nhà nước thực chi cũng chỉ vào khoảng từ 1.500- 2000 tỷ/năm trả cho cả phần rủi ro và lãi.
Không thể có một chính sách đơn lẻ nào có thể kiểm soát được các khoản nợ này khi nó được “xé lẻ” ra cho từng người. Ghi chú vào văn bằng lại càng là một nỗ lực vô vọng, nhất là đối với những người cố tình trốn nợ (chưa nói tới khía cạnh văn hóa). Không có chế tài nào có thể hữu hiệu tuyệt đối nếu không tạo ra được một thế hệ công dân biết tôn trọng các cam kết, tôn trọng luật pháp, tự hào với việc đã hoàn thành các nghĩa vụ (như là đóng thuế) với nhà nước. Tuy nhiên, các cam kết khi vay cũng nên để cho sinh viên nhận thấy, nếu có khả năng trả nợ mà không trả thì khi bị phát hiện, với “lý lịch tín dụng xấu” đó, họ có thể gặp khó khăn rất nhiều cho tiếng tăm và con đường tiến thân trong tương lai của mình.
Phải có một trung tâm lưu trữ thuộc “chính phủ điện tử” có đầy đủ các dữ liệu cá nhân, kể cả các dữ liệu về thuế, nợ nần… mà khi cần chỉ gõ số chứng minh thư, passport, hay số “an sinh xã hội” là xuất hiện đầy đủ thì mới dễ dàng tìm kiếm những người thiếu nợ. Những sinh viên sau khi tốt nghiệp, không trả nợ, nếu an phận với xe nước mía bên bờ kênh Nhiêu Lộc hay đứng bán sức lao động ở chợ Long Biên thì còn có cơ may thoát. Nếu chưa trả nợ mà cũng đòi đi học lên cao hơn, đòi thăng chức, đòi đi du lịch… thì tất nhiên là sẽ bị phát hiện dễ dàng.
Tìm kiếm những giải pháp để có thể thu hồi những khoản tín dụng đã đầu tư cho sinh viên là cần thiết vì nó còn có ý nghĩa bảo vệ một chính sách đúng. Tuy nhiên cứ loay hoay tìm một chỗ để “đánh dấu” trên mảnh bằng tốt nghiệp, thậm chí loay hoay với các giải pháp trong ngành giáo dục hay ngân hàng cũng không thể nào xử lý được một cách rốt ráo. Cần có những giải pháp đồng bộ để làm minh bạch cả hệ thống mới mong có được sự thành công của các chính sách nhất là những chính sách có mức độ ảnh hưởng lâu dài như chính sách này.

PS: Chiều 28-3-2007, sau khi gặp Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, tôi và một vị GS người Việt từ Mỹ về (chưa tiện nói tên) được bố trí gặp ông Nguyễn Minh Hiển, Cựu Bộ trưởng Giáo dục và ông Phan Thanh Bình, khi đó vừa được bổ nhiệm làm Giám đốc Đại học Quốc gia TP HCM. Ông Hiển được đích thân Thủ tướng giới thiệu là Trợ lý Thủ tướng kiêm Thường trực Hội đồng Quốc gia Giáo dục. Buổi gặp chủ yếu bàn về hợp tác giáo dục giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. Tuy nhiên, khi phát biểu, tôi có đề nghị hai ông so sánh chính sách đầu tư giữa Pháp và Mỹ và đề nghị nên giành một phần ngân sách để đầu tư trực tiếp thông qua các quỹ cho sinh viên vay. Ông Hiển nói là ông cũng đã từng nghe những đề xuất như vậy và ông cho điều đó là cần thiết. Tôi không rõ “Tín dụng Đào tạo” hiện nay là sáng kiến từ ông Nhân hay đã bắt đầu từ thời ông Hiển.
Huy Đức (blog Ôsin)

"Choi so" hoc sinh bo hoc!

"Chơi số" học sinh bỏ học!


Cuối cùng, sự sai lệch về số lượng học sinh bỏ học mà báo Tiền Phong vạch ra, đã được Bộ Giáo dục, trong buổi họp báo ngày 9-4, quy trách nhiệm cho các sở. Ngày 14-3-2008, khi báo chí bày tỏ sự lo ngại về con số 114 nghìn học sinh bỏ học, Bộ Giáo dục đã gửi công văn về các địa phương phê phán báo chí gây “bức xúc không đáng có trong xã hội, (làm) tổn thương tới ngành giáo dục và thầy cô giáo”.

Theo công văn này, thì tỷ lệ học sinh bỏ học không những không tăng “như báo chí nói” mà còn giảm mạnh: “Trước cuộc vận động ‘hai không’, bình quân 1000 em đi học thì có khoảng 60-70 em bỏ học, nhưng, sau một năm, chỉ còn 20 em và trong học kỳ I năm học 2007-2008, bình quân 1000 em đi học chỉ còn 2 em bỏ học”.
Khi chưa thể khẳng định các con số mà Bộ Giáo dục đưa ra là đúng hay sai, đã có nhiều bài báo cho rằng, trong tình hình ấy, cách tốt nhất mà Bộ nên làm là đi tìm nguyên nhân khắc phục, thay vì sử dụng các con số để “pha loãng” một thực tế rất cần được đánh động. Cựu Bộ trưởng Bộ Giáo dục, GS Phạm Minh Hạc nói: “Nếu có ai đó trong ngành Giáo dục cho rằng học sinh bỏ học không phải là chuyện mới, có thể coi (người đó) là vô trách nhiệm”. Một số tờ báo đã nghi ngờ tính chính xác của các con số do Bộ Giáo dục đưa ra. Báo Tiền Phong âm thầm cử phóng viên về các địa phương và kết quả điều tra của tờ báo này cho thấy, số học sinh bỏ học theo báo cáo của các sở, chênh lệch rất nhiều với báo cáo mà Bộ dùng để phê phán báo chí.
Tất cả các địa phương mà phóng viên báo Tiền Phong tới điều tra, dù miền Trung, miền Bắc hay Đồng Bằng Sông Cửu Long, số học sinh bỏ học trên thực tế đều lớn hơn rất nhiều so với con số đưa ra trong báo cáo ngày 14-3 của Bộ. Tại Khánh Hòa, công văn của Bộ Giáo dục nói chỉ có 1.034 em bỏ học, khác xa con số do sở Giáo dục Tỉnh ghi nhận: 14.000 em bỏ học cho tới hết kỳ I. Phó Chủ tịch UBND Tỉnh Khánh Hòa, ông Lê Xuân Thân, nói: “Bộ Giáo dục chưa thẳng thắn”.
Trước sự thật ấy, trong buổi họp báo ngày 9-4-2008, Vụ trưởng Vụ Giáo dục Trung học, Lê Quán Tần, thừa nhận: “con số của chúng ta có vấn đề”; và, ông chủ động giải thích: Sở dĩ có độ vênh giữa các số liệu là do các sở căn cứ vào các mốc thời gian khác nhau để báo cáo. Theo ông Tần, “Các sở phải chịu trách nhiệm” về những con số đó. Tuy số liệu học sinh bỏ học ghi nhận trong báo cáo của Bộ thấp hơn nhiều so với sự thật, Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân, khi trả lời phỏng vấn báo Tiền Phong, cho rằng: “Không thể là (vì) bệnh thành tích”.
Cũng cần nhắc lại, báo cáo ngày 14-3 của Bộ Giáo dục đưa ra sau khi xảy ra vụ bỏ học lên tới hàng trăm em ở huyện Thạch Thành, Thanh Hóa và lý do được xác định là do địa phương này áp dụng khá máy móc “hai không”. Ông Nguyễn Vinh Hiển đã từng thừa nhận: “Có một lý do đáng kể xuất phát từ việc thực hiện cuộc vận động nói không với thành tích”. Nhưng, cũng chính ông Hiển, khi ký công văn ngày 14-3 lại nhấn mạnh yếu tố “trước và sau cuộc vận động hai không” bằng các số liệu mà chúng tôi vừa phân tích. Chưa kể, chính công văn này của Bộ cũng “sử dụng các dữ liệu” theo cách mà ông Lê Quán Tần phê bình các sở: số học sinh bỏ học không đầy đủ trong một học kỳ của năm học 2007-2008 đã được dùng để so sánh với con số cả năm của những năm trước đó.
Tình trạng học sinh bỏ học, như đã nói, do: điều kiện giáo viên, trường lớp; do nghèo khó; do chương trình học quá nhiều tham vọng, tạo ra nhiều áp lực … Và, như phân tích của GS Phạm Minh Hạc: Cuộc vận động “hai không” về bản chất rất tốt, nhưng cách làm chưa ổn. “Phanh” bệnh thành tích một cách quá gấp, khiến cho nhiều học sinh và cả phụ huynh phấp phỏng lo cho tương lai, học tốn kém mà không đỗ. Cho nên, chưa lúc nào như hiện nay, cả phụ huynh cũng đồng thuận cho con mình nghỉ học.
Như vậy, trừ “hai không”, học sinh bỏ học do nhiều nguyên nhân và có những nguyên nhân bắt đầu từ các nhiệm kỳ bộ trưởng khác. Việc khắc phục phải từng bước, bắt đầu bằng các chính sách thận trọng, chứ không thể giải quyết trong một sớm, một chiều. Muốn có các chính sách đúng thì phải biết được các nguyên nhân trên cơ sở có được đầy đủ, chính xác các dữ liệu. Có thể không phải vì “bệnh thành tích” như Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân nói. Cũng có thể “lỗi do các sở” như ý kiến của Vụ trưởng Lê Quán Tần. Điều đáng lo là, ngay cả một vấn đề hệ trọng như học sinh bỏ học, mà hệ thống giáo dục cũng không đưa ra được các dữ liệu đúng. Sự sai lệch giữa con số thực tế và con số do Bộ báo cáo, không chỉ ảnh hưởng tới uy tín, điều đáng lo ngại hơn là, trên một cơ sở dữ liệu thiếu chính xác như vậy, làm sao Bộ có thể đưa ra được các chính sách đúng, hữu hiệu và kịp thời.

Huy Đức (blog Ôsin)

Vang Anh & Vang Anh!

Vàng Anh & Vàng Anh!

Vàng Anh Phan Thị hiện vẫn đang sống trong trạng thái lâng lâng vì được “cụ cố” Hoàng Công Khanh, nhà văn, 80 tuổi, nhìn mà tưởng lầm đấy là cô Vàng Anh Nhật Ký. Số là trước sự kiện tập thơ “Gửi VB” được Hội Văn Nghệ Hà Nội trao giải, cụ Khanh có ý kiến: “Hội Văn nghệ Hà Nội đã rất dũng cảm khi trao giải cho tập thơ Gửi VB. Hội đã biết phân biệt đâu là thơ, đâu là người. Vụ phim sex chỉ là một sự cố đáng tiếc”

Phim sex của Vàng Anh, hẳn, nhiều người đã xem rồi, còn bài viết mà tôi đã đăng từ tháng 10- 2006 này thì chắc các bloggers chưa đọc. Nhân sự kiện “Vàng Anh” vừa được xới lại, theo một tin nhắn nghe nói có xuất xứ từ chính nhà văn Hồ Anh Thái, xin post lại bài viết này dù biết các bạn mà nhìn thấy Vàng Anh bây giờ thì không thể nào nghĩ đấy là Vàng Anh!
Vàng Anh đấy ư?
Mọi người đã quen với một Vàng Anh khác. Một Vàng Anh đã đi qua cái thời khi người ta trẻ. Một Vàng Anh, với con mắt tinh quái, với cái miệng cứ vanh vách xướng lên những ý nghĩ chỉ vừa mới ngọ nguậy trong đầu người ta
Những ai đã đọc những bài tạp văn ký tên Thảo Hảo, đăng trên tờ báo Thể thao Văn hoá, và biết Thảo Hảo không phải là một bà đanh đá nào đó mà chính là cái cô Phan Thị Vàng Anh, thì còn bất ngờ hơn khi đọc tập thơ Gửi VB của chị.
Giờ nằm im và ngửa cổ
cho đầu thõng xuống cạnh giường
đề phòng nước mắt có chảy
chầm chậm
ngược dòng

tuôn.
Vàng Anh đấy ư!
Mấy năm trước, đang sống yên ổn ở Sài Gòn, Vàng Anh đột ngột xách va li ra Hà Nội. Không mấy ai biết chuyện gì xảy ra. Mỗi khi gặp lại, thấy con mắt, cái miệng và giọng điệu của chị vẫn như cũ. Đâu ai nghĩ chị đang "tập làm thơ". Đâu ai biết, trong căn hộ chị thuê ở Hà Nội, "ba năm rồi", "quơ tay", "không-sợ-đụng-nhầm-tay-ai".
Bóng đèn cuối cùng của chung cư đã cháy
Dò dẫm đi lên những cầu thang ướt như bùn chảy
Cái điện thoại cả tối không một tiếng reng
Trong tay làm một ngọn đèn
Loạng choạng
Vàng Anh đấy ư!
Tôi đọc thơ Vàng Anh có chịu ảnh hưởng một chút (có lẽ từ chị) cái nhìn săm soi. Bèn tò mò: VB là ai nhỉ? Đọc bài thơ Gửi VB ở trang 36 thấy Vàng Anh và VB xem ra cũng rất thân thiết. Hai người đã cùng nhau đi đây, đi đó. Nhưng, chỉ khi đến Hà Nội họ mới thực sự bị gió Hồ Gươm "thổi cho xiêu vẹo", như "thú nhận" của Vàng Anh. Dưới bài thơ đề ngày 24.12.2002. Nghĩa là VB cũng không phải là lý do để chị bỏ Sài Gòn ra Hà Nội.
Nhưng VB, tôi đoán, có lẽ cũng đã góp phần khiến cho chị trong những ngày lạnh lẽo ấy, cố nuốt lòng kiêu hãnh Vàng Anh để vừa tự hỏi, vừa thú nhận: "Não đàn bà làm bằng gì mà chỉ nghĩ chuyện tình yêu? /Chụm đầu nghiêm trọng như âm mưu chỉ để bàn về một người đàn ông bé nhỏ?". Vàng Anh, nghe nói, sắp trở lại Sài Gòn. Chị đã từng là một thần đồng, một nhà văn, là một quan chức văn nghệ và đang sắp sửa làm một vai trò quan trọng hơn của phụ nữ.
Theo như bài thơ in ở cuối tập, khi bắt đầu "học làm thơ", Vàng Anh đã định viết sao cho nó bay bướm, cầu kỳ, cho giống những nhà thơ mà chị nói là "tôi ngưỡng mộ". Rất may, như chị tự nhận là "tôi bất tài", tập thơ vì thế chỉ gồm những câu chữ mộc mạc, những hình ảnh rất thật của hai con mèo "vắng mặt không có lý do"; là "tia nắng đúng chín giờ vào lọt khe cửa sắt"; là anh thợ khoá "một giờ sáng còn ăn cơm"; là anh xe ôm, hai giờ- vắng hoe - buồn bã. Lối nói mộc mạc bằng những hình ảnh rất thật ấy té ra lại "tố cáo" rất hữu hiệu một sự thật khác về Vàng Anh, một sự thật khác trong cô đơn thẳm sâu của một người đàn bà.
Cám ơn VB và cám ơn cái lý do "vớ vẩn" nào đó làm cho Vàng Anh xồng xộc chạy ra Hà Nội, rồi để chị một mình lạnh lẽo, để chị có tập thơ này.


Huy Đức (blog Ôsin)

Dua con nuoi cua Vicky

Đứa con nuôi của Vicky
Đến Washington, DC, tôi được Vicky, một phụ nữ xinh đẹp đón ở sân bay. Mỗi thành viên cùng nhận học bổng như tôi đến từ một nước khác nhau và đều có một người tình nguyện như thế. Nhưng, Vicky chọn tôi vì chị có một cô con gái nuôi Việt Nam, chị muốn con gái chị có nhiều cơ hội hơn để tiếp xúc với người Việt.
Vicky nhận bé Annie Jewel tại một trại trẻ mồ côi ở Miền Bắc. Trại nói rằng, mẹ Annie Jewel là một cô gái Mường ở Hoà Bình. Cô gái yêu một chàng sinh viên đang học ở Thủ Đô, nơi, cô cũng ước mơ sẽ vào được một trường đại học ở đó. Đứa con được sinh ra khi cả hai đều chưa đủ khả năng để gây dựng một gia đình… Họ đặt tên cho bé là Bùi Thị Tuyết. “Báu vật” mà cha mẹ đẻ để lại cho Tuyết là một bộ đồ rất đẹp màu cam. Bộ đồ không hiểu sao được may rộng hơn những gì cho một trẻ 3 tháng tuổi. Có lẽ nhờ thế mà năm 3 tuổi, khi bắt đầu thích đồ đẹp, Tuyết mới mặc vừa. Mẹ nuôi Vicky nói: “Đây là quà của mẹ Tâm, người đã sinh ra con”.
Khi đã xong giấy tờ để làm mẹ, Vicky bế con lên Hoà Bình, chị ngắm những mảnh ruộng nhỏ bên lưng núi, nhìn thật kỹ những ngôi nhà gỗ. Chị muốn trong câu chuyện rồi chị sẽ kể cho con, có những hình ảnh giúp Tuyết-Annie Jewel hình dung ra nơi chôn rau cắt rốn của cháu. Lên 5 tuổi, Annie Jewel được gửi tới một trong những nơi nuôi dạy trẻ tốt nhất ở khu vực Washington. Nhưng điều mà Vicky hài lòng nhất là càng lớn, Tuyết-Annie Jewel càng ý thức được cháu là người Việt. Mỗi khi xuống phố hay đi bộ trong khuôn viên của trường, Tuyết vẫn hay thì thầm vào tai mẹ: “Mom, nhìn kìa, các bạn người Châu Á”. Rồi bé hỏi: “Mẹ có nghĩ rằng trong đó có vài bạn là người Việt Nam không?”
Năm gần 40 tuổi, Vicky ao ước có một đứa con. Những người bạn trai từng sống chung không đưa lại cho chị niềm hạnh phúc đó. Chị quyết định tìm một đứa bé để nuôi. Các cơ sở tư vấn giới thiệu cho chị cả những đứa trẻ Trung Quốc, nhưng chị chọn Việt Nam. Vicky thuộc thế hệ những đứa trẻ Mỹ lớn lên khi mà ở ngoài đường là những cuộc phản đối chiến tranh, còn trong phòng khách, tivi và người lớn gần như không còn chuyện gì quan trọng hơn là chuyện Việt Nam để bàn đến. Vicky nói: “Tôi biết lịch sử thường rất phức tạp để hiểu, nhưng, điều đơn giản mà tôi cảm thấy là chúng tôi sai khi đã gây ra ở đó biết bao đau thương”. Nuôi một đứa con người Việt, Vicky nói: “Khiến cho tôi nghĩ rằng mình đã nuôi dưỡng một sợi dây liên hệ giữa hai nước, sự liên hệ không phải từng có trong quá khứ: chiến tranh”. Khi làm thủ tục nhận Tuyết làm con nuôi, những người ở trại trẻ mồ côi nhìn Vicky và nói rằng: “Con bé này thật may mắn”. Nhưng rồi càng ngày, Vicky nghĩ, người thực sự may mắn là chị.
Tháng 8 năm ngoái, Vicky đưa con đi dự Trại Hè Văn Hoá Việt, trại do những người Mỹ có con nuôi Việt Nam tổ chức. Các cháu gái mặc áo dài, các cháu trai đội khăn đóng, những anh chị sinh viên người Việt tình nguyện giúp các cháu chơi những trò chơi Việt Nam. Trong khi, cha mẹ chúng dự những cuộc nói chuyện về lịch sử, văn hoá Việt. Tại nơi nói chuyện về lịch sử bang giao Việt-Mỹ, những bậc cha mẹ người Mỹ đã rất bất ngờ khi người diễn thuyết, một phụ nữ người Việt trẻ, đã chỉ trích chính phủ Việt Nam rất nhiều và phê phán chính phủ Hoa Kỳ đã bình thường hoá quan hệ. Những người Mỹ này đã phản đối diễn giả, họ nói: “Chính Hà Nội đã giúp đỡ để chúng tôi có những đứa trẻ này. Nếu không có mối quan hệ bình thường đó làm sao có gia đình chúng tôi?” Rồi chính những người Mỹ đã huỷ nửa chừng cuộc nói chuyện đó. Diễn giả hôm đó là một một thuyền nhân đến Mỹ khi còn là một đứa trẻ. Vicky đọc nhiều sách và chơi với nhiều người Việt có cùng hoàn cảnh, chị biết câu chuyện của họ. Nhưng Vicky biết, nhiều người trong số họ đã chưa trở lại Việt Nam trong gần ba chục năm qua. Họ có thể không có cùng sự chia sẻ như những người Mỹ vừa đến đó, chứng kiến một Việt Nam hoàn toàn khác. Những ông bố, bà mẹ có con nuôi Việt Nam sau hôm ấy trở nên băn khoăn nhiều hơn, liệu những đứa trẻ mà họ đang nuôi nấng này có làm được sợi dây nối lại những điều đã bị chiến tranh chia cắt như họ muốn khi mà giữa những người Việt với nhau vẫn còn mang những kỷ niệm cay đắng này?
Ở nhà Vicky có rất nhiều sách Việt Nam, một trong những cuốn sách đấy là tuyển tập những truyện ngắn về chiến tranh do Wayne Karlin dịch cùng với chị Phan thanh Hảo. Wayne vốn là một cựu binh ở Việt Nam, anh đang dạy ở một trường đại học cộng đồng ở vùng đông nam Maryland. Hai người bạn rất thân của Wayne ở đấy là hai người Việt đến Mỹ từ những năm 50. Nhà anh giờ đây gần như trở thành một trong những điểm thăm viếng thường xuyên nhất của những nhà văn, nghệ sỹ đến từ Việt Nam theo chương trình của trung tâm Williams Joiner, một trung tâm chú trọng vào những hoạt động mang tính giao lưu văn hoá Mỹ-Việt và hoà giải.
Vicky muốn gặp Wayne Karlin để chia sẻ những điều băn khoăn của cô. Tôi đã nhờ chị Phan Thanh Hảo, từ Hà Nội, tổ chức cuộc gặp cho hai người Mỹ sống cách nhau chỉ một giờ đi xe này. Hôm gặp nhau, họ đã nói chuyện với nhau từ giữa trưa cho tới khi trời tối. Những cuốn sách đầu tiên của Wayne Karlin là về Việt Nam, nhưng từ nhiều năm nay, anh lại nói nhiều hơn về cuôc nội chiến Mỹ xảy ra trong những năm đầu 60 của thế kỷ thứ 19. Ngôi nhà của Wayne Karlin nằm ở nơi chịu ảnh hưởng nhiều nhất trong cuộc chiến tranh này.
Năm 1865, khi cuộc nội chiến Mỹ đi đến hồi kết thúc, các sĩ quan trong Bộ Tham mưu của miền Nam đề nghị rút lui vào rừng để chiến tranh du kích, nhưng chỉ huy lực lương miền Nam là tướng Lee bác bỏ. Ông, vị tướng lừng danh từng chỉ huy Học viện quân sự Westpoint, quyết định đầu hàng để chấm dứt cảnh huynh đệ tương tàn. Tướng Lee viết thư gửi chỉ huy quân Miền Bắc là tướng Grant. Lịch sử kể rằng, tướng Grant đã ra lệnh cho ba quân thổi kèn đón tiếp tướng Lee như một người hùng. Và, điều mà tướng Lee thoả thuận hôm đó với tướng Grant là để cho binh lính Miền Nam được đưa lừa ngựa mà họ đã mang từ nhà đi tham chiến, quay về cày hái như trước.
Cách ứng xử của hai vị tướng từng là bạn và từng là cựu thù này được ca ngợi như là một biểu tượng của sự hàn gắn. Và, vị Tổng thống lúc ấy, Abraham Lincoln, đã chủ trương sẽ không có trừng phạt những người thua trận. Ông nói: “Từ nay, các bạn là anh em, chúng ta không còn là kẻ thù của nhau nữa”. Nhưng, chỉ hai ngày sau, Tổng thống Lincoln bị ám sát. Người kế nhiệm ông là Tổng thống Andrew Johnson lại dùng không ít chính sách trừng phạt Miền Nam và điều đó đã làm cho vết thương chia cắt phải mất nhiều chục năm để hàn gắn và làm cho sự kỳ thị người da đen ở các bang miền Nam đã tồn tại dẳng dai hơn miền Bắc. Wayne Karlin nói: “Cạnh nhà tôi đây, xưa là một trại tù binh chiến tranh, hàng ngàn người đã chết ở đó vì đói và bệnh tật. Nhưng phải 65 năm sau, chính phủ mới cho xây một đài tưởng niệm họ”. Wayne gọi cách ứng xử đó là một lỗi lầm.
Khi tham chiến ở Việt Nam, Wayne nói: “Phần lớn những phi vụ trực thăng của tôi là tải thương và cứu nạn, nhưng tôi vẫn cảm thấy bị cắn rứt rất nhiều”. Wayne Karlin đã viết vì anh nghĩ đó là cách tốt nhất để thấy mình thanh thản hơn. Và, theo anh, được viết ra những sự thật phức tạp và những suy nghĩ, cách nhìn từ các bên cũng là cách tốt nhất để hàn gắn những vết thương gây ra bởi cuộc chiến. Wayne Karlin đã và đang làm nhiều việc để giúp đỡ những người bạn Việt, nhưng cũng như Vicky, Wayne nhận ra, chính anh chứ không phải những người bạn Việt mới là người may mắn. Wayne vừa mới đón đạo diễn Đặng Nhật Minh tới thăm tháng trước. Và, Vicky thì đang có ý định trở lại Việt Nam để tìm thêm cho Tuyết-Annie Jewel một “người anh em”, chị cũng muốn liên lạc với cha mẹ ruột của Tuyết, chị muốn con gái chị biết rõ hơn về nguồn gốc của mình và chị muốn sợi dây liên hệ với Việt Nam được củng cố trên nền tảng của mối quan hệ gia đình.
Có hàng triệu lượt người Mỹ đã tham gia chiến tranh Việt Nam, hàng chục triệu người Mỹ khác biết tới Việt Nam nhờ theo dõi cuộc chiến qua truyền thông và tham gia các cuộc biểu tình. Hơn một triệu rưỡi người Việt đã tới định cư ở Mỹ từ hơn 30 năm nay. Không phải quốc gia nào cũng có một sự liên hệ lớn lao và “bằng xương, bằng thịt” như vậy. Điều gì sẽ xảy ra, nếu các bên hoà giải thực sự, điều gì sẽ xảy ra nếu như, có thêm nhiều người như Wayne, như Vicky? “Chiến tranh là một một điều xấu”, Wayne nói, nhưng chiến tranh thì đã qua, “Hãy làm nãy nở những điều tốt từ đó”.

Huy Đức (blog Ôsin)

Cuop hoa o Ha Noi (1)



Ảnh: dantri.com.vn
Cướp hoa, điện thoại chùa
& coi báo cọp!

“Văn hóa” và “ý thức công dân” là hai yếu tố đang được các nhà chuyên môn đưa ra nhằm giải thích cho vụ Lễ hội Hoa bị phá nát bởi chính những người dân Hà Nội. Nhưng, cho dù vụ cướp hoa mang dấu hiệu vi phạm văn hóa nhiều hơn thì hành vi “giật những lồng chim trên tay ban tổ chức” vặt sạch những “cây hoa trị giá hơn 20 triệu đồng” đã đủ để cấu thành một số tội danh. Chính quyền ngay lúc ấy lẽ ra đã phải có mặt kịp thời xử lý. Hủy hoại văn hóa, hủy hoại hoa và cây cảnh của các nghệ nhân, cũng nghiêm trọng và cần được phản ứng nhanh như khi “an ninh” bị thách thức ở nơi công cộng.

Không biết những người cướp hoa, không bị chụp hình và những người bị chụp hình đưa lên mạng, lên báo, đang cảm thấy thế nào. Ai đang xấu hổ, ai bị “đứt giây thần kinh xấu hổ” như cách nói của chính dân Hà Nội. Nhân sự kiện “hoa tặc”, nhiều người liên hệ tới một hiện tượng tưởng không dính dáng gì tới hoa, đó là văn hóa gọi điện thoại chùa và coi báo cọp. Chuyện nhiều người Hà Nội chỉ sử dụng điện thoại công sở để gọi ngay cả những cuộc trò chuyện hết sức riêng tư, cho dù trong túi có cả một chiếc i-phone, là điều chẳng có gì cá biệt. Đồng nghiệp bên cạnh gọi, xếp cũng gọi. Có những vị công chức, suốt cả cuộc đời mình hầu như chỉ đọc báo ở cơ quan. Rồi đến ngày nghỉ hưu lại vừa tập dưỡng sinh vừa tranh thủ đi bộ ra phường để đọc những tờ báo được treo nơi công cộng. Khuynh hướng tranh thủ khai thác tài sản công, dường như, thể hiện rất mạnh mẽ ở những nơi mà sở hữu tư đã từng bị công hữu hóa.
Những chuyện tương tự không xảy ra ở chợ hoa Nguyễn Huệ, nhưng cũng không phải nó chỉ có những yếu tố mang tính địa phương (Thủ đô). Giỏ hoa và những tài sản công khác, như tờ báo, cuộc điện thoại, được các công chức nhỏ sử dụng “vô tư”, có thể bởi nhiều người nghĩ nó chẳng đáng chi so với những thứ lớn hơn bị “ăn chia” mà không còn được coi là xấu nữa. Khi còn nhỏ, chứng kiến cha mẹ phải tiền bạc cho thầy; khi làm bệnh nhân phải tiền bạc cho bác sỹ; tiền bạc khi vi phạm luật giao thông; tiền bạc để lên chức; tiền bạc để lên báo và để lấy danh hiệu này, danh hiệu khác… Một quan chức cao cấp không còn thấy xấu hổ khi sử dụng chiếc điện thoại trị giá hàng mấy chục tháng lương. Không còn xấu hổ khi con cái “chơi” những chiếc xe hơi trị giá phải tính bằng nhiều tỷ. Không còn xấu hổ khi nói dối, khi thấy cấp dưới rút ruột các công trình... Không xấu hổ khi chỉ vì một cánh hoa mà cả phố hoa tan nát.
Suốt đêm 2-1-2009, các nghệ nhân Hà Nội đã làm lại các tiểu cảnh, cắm lại hoa… nhưng vẻ đẹp ban đầu ở phố hoa và cả trong lòng người đi qua, thì không biết đến bao giờ mới mong khôi phục. Những cụm hoa đẹp giờ đây đã được rào dậu. Nhưng, những hàng dậu ấy không che đậy hết những dấu vết tan hoang, những dấu vết không thể khắc phục sau một vài đêm thức trắng. Năm tới, không rõ Hà Nội có định làm lễ hội hoa nữa không, nhưng chắc Hà Nội cũng nhận ra, cái đẹp không thể được trang trí cho dù có cả một phố hoa rực rỡ.

Huy Đức (blog Ôsin)

Vu LeHoang & NguyenCongKhe (1)

Tiễn đưa Tổng biên tập!
Chưa chắc chắn ai sẽ làm tổng biên tập hai tờ báo chính trị có độc giả lớn nhất nước: Tuổi Trẻ, Thanh Niên. Nhưng, cả ông Lê Hoàng và Nguyễn Công Khế đều phải hoàn tất việc bàn giao trước ngày 31-12. Ông Đặng Thanh Tịnh, phó tổng biên tập (TBT) tờ Thanh Niên và ông Bảy Sơn (Vũ Văn Bình), phó TBT tờ Tuổi Trẻ, sẽ là phó TBT phụ trách hai tờ báo này trong khi chờ nhân sự mới. Như vậy, hiện thời ở Thanh Niên và Tuổi Trẻ không có một phó TBT phụ trách nội dung nào được trên tin cậy.

Cùng phụ trách trị sự như ông Bảy Sơn, nhưng ông Tịnh thực sự là một nhà báo. Bao nhiêu năm qua, ông giấu mình phía sau nên ít ai biết, ở Thanh Niên, ông là người bản lĩnh và am hiểu trên nhiều lĩnh vực. Nếu như, ông Tịnh tham dự vào nội dung nhiều, Thanh Niên sẽ là một tờ báo tử tế.
Ông Bảy Sơn được ông Lê Văn Nuôi đưa từ Thành Đoàn về báo Tuổi Trẻ đã hơn 10 năm, nhưng sẽ là quá sức nếu bây giờ bắt ông phải quyết định bài nào đăng, bài nào gác. Hình ảnh ấn tượng nhất mà tôi nhớ về Bảy Sơn khi ông mới làm Chánh Văn phòng là một người đàn ông ngồi trước một cái laptop hiện đại nhất Tuổi Trẻ, cắm cúi chơi game, nhưng vẫn giữ mặt nghiêm trọng như là đang làm việc. Có lẽ Bảy Sơn sẽ cảm thấy yên ổn hơn nhiều nếu cứ để cho ông tiếp tục đi ký hợp đồng mua giấy.
Chắc chắn có rất nhiều trắc ẩn trong lòng Lê Hoàng, 5 năm trước, ông đã miễn cưỡng khi bị điều từ NXB Trẻ về thay Lê Văn Nuôi. Ông đang được mọi người ở NXB Trẻ yêu mến và bản tính ông cũng không muốn “xông pha lửa đạn”. Tất nhiên, ông biết, dù ngạch trật hành chính ngang nhau, làm TBT Tuổi Trẻ là “lên” so với khi làm Giám đốc NXB Trẻ.
Nếu như, trước đây, ông Lê Văn Nuôi chủ yếu “trị” Tuổi Trẻ bằng cách “tọa sơn quan…” Vĩnh- Phước. Thì Lê Hoàng áp dụng nguyên tắc đồng thuận trong Ban Biên tập. Nguyên tắc này, đôi khi khiến ông gặp khó khăn, vì nhiều ý kiến của ông gặp phải sự bất đồng của một số thành viên, đặc biệt là Quang Vĩnh, một người rất kinh nghiệm tạo ra bất ổn. Cũng không may, ông làm Tuổi Trẻ ở thời điểm mà cơ quan chủ quản đánh giá được tiềm lực kinh tế của tờ báo cũng như của các cơ quan khác như NXB Trẻ, nhà in Lê Quang Lộc… nên đã can thiệp rất sâu. Bản tính mềm mỏng của ông đã không đủ cương quyết để cưỡng lại những can thiệp thô bạo. Và, một vài thành viên trong tờ báo đã khai thác điểm yếu đó để thách thức uy tín ông. Chỉ từ khi, đưa được Quang Vĩnh ra khỏi Tuổi Trẻ, ông Lê Hoàng mới có đủ điều kiện để gây ảnh hưởng lên tờ báo. Nhưng, nhanh quá!
Tuy không xuất thân từ một nhà báo chuyên nghiệp, Lê Hoàng ý thức rất rõ vai trò công luận của một tờ như Tuổi Trẻ và sứ mạng thông tin không thể tránh được của một người làm báo. Ông không thể không đăng những bài viết trong vụ PMU 18. Và đặc biệt gần đây, ông được đánh giá cao khi, đúng ngày Thủ tướng ra trước Quốc hội, cho đăng tin phiên tòa ở Nhật xử vụ PCI có nêu đích danh Huỳnh Ngọc Sỹ (tờ Thanh Niên hôm ấy không đăng). Cho dù ông biết đăng tin này là “đụng”. Khi phóng viên Nguyễn Văn Hải bị bắt, không tìm cho mình một thế “ngoại phạm”, ông trực tiếp ký duyệt tất cả những bài báo gai góc liên quan tới vụ này. Trong những lúc khó khăn nhất, ông luôn có mặt bên Nguyễn Văn Hải. Đặc biệt, giới quan sát, rất cảm kích khi thấy Lê Hoàng đã giữ được tư cách một nhà báo khi trong suốt thời gian chiếc ghế của ông bị lung lay, ông đã không hề “chạy chọt”. Hiện ông Hoàng cũng tỏ ra thanh thản khi được lệnh bàn giao. Có lẽ, nếu như ngay sau khi kết thúc phiên tòa xử hai nhà báo, Lê Hoàng tuyên bố từ chức thì ông đã có được một sự ra đi trọn vẹn.
Tôi không có ý định viết về ông Nguyễn Công Khế trong entry này. Và, vẫn đang rất cân nhắc khi đưa ra bài viết về ông tướng Nguyễn Việt Thành. Nếu những khuất tất trong vụ Năm Cam được phân tích, thì chúng ta sẽ thấy phương thức sử dụng báo chí “làm án” mà tướng Quắc sử dụng trong vụ PMU vẫn chưa đáng là học trò so với những gì mà tướng Thành đã làm trước đó.
Huy Đức (blog Ôsin)